Nhớ bụm hai bàn tay lại, hứng từng dòng nước mát rượi vốc vào mặt, vào cổ mình. Anh nhìn lại công trình cả buổi chiều nay. Cái máng nước bằng cây nứa to nhất, dài nhất được chặt và vác lên từ phía dưới thung núi, Nhớ hì hục đóng chéo, bắc nước từ con suối Tắk Ngo chảy về. Mọi khi có cha, hai cha con người gác máng, người đóng chéo thì nhanh hơn. Nay, mình anh hì hục mãi từ sáng sớm khi khói đá còn quầng ngang lưng chừng núi Dúa trắng bưng tới chừ, mặt trời đổ rát nắng xuống tấm lưng trần nhễ nhại mồ hôi, thì cái máng nước mới xong.
Nhớ trở vào chòi rẫy, ngồi trong chòi nhìn ra, anh thấy mênh mông những khoảng đồi, những thung sâu, xa kia là dải núi Ngọc Klinh hùng vĩ. Nóc Tắk Mưng của anh bé xíu, lúp xúp dưới những rặng cây. Gió trưa lồng lộng thổi mát rượi. Anh đứng dậy, vơ tay lấy cây rựa, tay cầm gùi mang lên vai định xuống núi thì đâu dưới nóc có tiếng chiêng. Nhớ lắng tai nghe, tiếng chiêng núm đổ dồn một hồi dài. Cái chiêng lớn từ nhà rông chỉ đánh lên vào dịp lễ Ăn trâu, lễ Lúa mới và khi có người trong nóc gặp nạn. Anh vội vã bước nhanh xuống con dốc.
Từ đầu nóc, Nhớ thấy người ta kéo đến phía nhà mình. Linh tính báo chuyện không lành, anh chạy như con sóc, chen chân lên cầu thang. Trong nhà, già làng đang ngồi bên cha. Anh ném cả cái gùi, cái rựa vào góc nhà và lao đến.
Bàn tay ông Thác khô đét như que củi trong lòng tay Nhớ. Ông mở cặp mắt đùng đục như nước suối mùa lũ, miệng thều thào.
- Cái gùi...
Nhớ hướng theo ánh mắt cha, thấy cái gùi cũ treo trên vách phía bếp, anh vội lại gỡ nó xuống. Cái gùi cũ ám mùi bồ hóng, thân gùi thâm xỉn, đen nhẻm. Cái gùi để đó không biết bao nhiêu mùa rẫy, từ trước ngày mẹ mất. Đã mấy lần cái nhà sàn sửa lại, nhưng thủy chung, cái gùi vẫn được treo ở đó, trên vách bếp. Mỗi sáng, mỗi chiều nhóm lửa, ngọn khói bủa lên vây lấy, như để ôm giữ. Khói bao đời vẫn thế, nhẫn nại lặng im, như người ta giữ những bí mật cho nhau.
Nhớ tưởng ngày đưa ma mẹ, cha chia của bằng cái gùi đó. Nhưng không, ông Thác tự đan cái gùi mới để chia của, còn cái gùi cũ vẫn để lại, treo ở vách phía trên bếp, không ai đụng đến.
Bàn tay run run, ông lần trong cái gùi ra một cái bọc gói bằng tấm vải dù thời chiến, đưa cho Nhớ. Nhớ chưa bao giờ thấy cha mình run như vậy. Cha thường dặn, đàn ông người Ca Dong, Mơ Nông mình phải mạnh mẽ, phải cứng cỏi. Cái tay cầm con rựa, cái rìu cho chắc mới chặt được cây rừng. Cái chân cứng như đá mới leo được núi, bươn được rừng. Và, cái bụng phải trong sạch như nước con suối Tắk Ngo mới không bị con ma rừng bắt theo, làm mấy điều xấu chết đi thành ma quẩn dưới hố, trong hốc, trong hang.
Cái tay mạnh mẽ, từng cầm rìu chặt ba ngày để hạ cây chò to lấy gỗ về làm nhà rông, từng giương nỏ bắn gục mấy tên biệt kích như lời cụ già Đăm kể lại, cái chân đã từng dắt Nhớ bươn bao nhiêu núi, bao nhiêu rẫy, vậy mà giờ đây, đôi chân không nhấc lên được, đôi bàn tay cầm tay con trai mình lại run run, lạnh toát. Nhớ thấy tay cha rời tay mình, ông thở ra, một hơi thở mỏng như sợi khói chiều. Rồi ông im lặng. Im như rừng, như đêm mịt mùng, như lũ sóc trong hốc cây khi có tiếng người đi qua. Từ đó, Nhớ không còn được nghe tiếng cha thêm lần nào nữa.
Cái chiêng núm lại gióng lên từng hồi giục giã.
*
Núi Dúa quanh năm mây trắng bện kín, trắng như bông dẻ mùa xuân đến lại nở bung biêng khắp triền đồi, trên lưng chừng núi, dưới tận thung sâu. Mấy người già nói dân mình sống được nhờ ngọn núi ấy. Cái núi cho củi để đốt lửa, lửa mỗi sáng mỗi chiều trong nhà sàn, nhà rông, lửa mỗi đêm lễ hội. Cái núi cho măng tre, cho nấm rừng, cho con thú. Từ lưng chừng núi, suối Tắk Ngo chảy xuống con nước trong leo lẻo để làm mấy vạt ruộng bậc thang, để người lấy nước sinh hoạt, để con trâu, con bò uống.
Nhiều hơn một lần Nhớ hỏi vì sao núi có tên là núi Dúa. Ông Thác bảo trên núi có nhiều dúa lắm. Dúa đào hang dưới mấy vách đá lớn, dúa sống thành từng bầy, có bầy lên đến mấy trăm con, cả ngàn con. Dúa cùng họ với nhà chuột núi. Theo lời già làng Đăm kể, hồi lâu kia, cả nóc mất mùa, lúa rẫy chết queo, lúa ruộng bị sâu ăn, heo rừng về phá, dân nóc không còn một hột gạo. Người ta bủa vào rừng tìm măng, tìm nấm, săn thú. Người ta gài bẫy dúa để ăn. Nhờ đó mà dân nóc vẫn trụ lại được dưới chân núi như bây giờ. Nếu không, cả nóc phải bỏ đi núi khác.
Hồi chiến tranh, bọn giặc thả bom. Bom nổ đùng đùng giữa sân nhà rông, người già, con nít dắt díu nhau chạy lên trên nớ, chỗ núi Dúa. Núp trong mấy gốc cây chò, cây dổi mà sống. Không có núi, dân mình có mà chết. Đó là lời ông già làng có cái gò má cao như mỏm đá thường kể cho bọn trẻ nghe trong những đêm nhà rông có lửa bập bùng.
Người Mơ Nông, người Ca Dong sống biết ơn. Năm nào họ cũng đều phải tạ ơn thần núi, thần nước, thần lúa. Những Tết mùa cơm mới, lễ hội Ăn trâu, Cúng máng nước, họ làm những mâm cúng thật đủ đầy để dâng thần. Cây nêu dựng lên vững như cây chò, cây sến giữa sân nhà rông. Dây mây, cật nứa, tre được vót mịn làm những tua treo quanh thân nêu. Lá cau cũng được tước xơ, tết thành con chim, thành cái hoa treo lủng lẳng. Già làng bày mâm cúng. Mâm cúng có con gà sống đặt nằm ngửa giữa mâm. Quanh mâm có cá suối nướng, thịt gà, các loại bánh gói từ nếp rẫy, lúa rẫy, canh măng, và không khi nào thiếu thịt dúa, thịt sóc.
Nhớ không quên miếng thịt dúa thơm lừng cha nướng trên chòi đưa cho Nhớ khi anh lon ton theo cha lên rẫy. Lúc đó, cái chân anh còn trắng như mụt măng rừng, cái tay còn bé tí xíu, đâu đã nắm được rựa. Lên rẫy chỉ ngồi trong chòi ngó ra xem cha với mẹ làm cỏ bắp, làm cỏ lúa, dọn chồi, lẩy lúa mùa chín... Nhớ không lạ khi người nóc bảo mày chẳng giống cha, tóc mày không xoăn, da mày không ngăm đen như đàn ông Ca Dong, đàn ông Mơ Nông. Cái hình không giống cha nhưng cái bụng Nhớ nhất định là cái bụng của cha. Nhớ theo cha đi hết con rẫy này đến con suối khác, để hái măng, để săn thú, để bắt ốc, bắt cá... Cái đầu Nhớ thuộc nhiều bài chiêng, cái tay Nhớ thổ được nhiều bài trống. Trai nóc này, đứa nào giỏi hơn Nhớ.
Không khói bếp mà sao Nhớ thấy cay mắt quá. Anh nhìn quanh, cái vách chòi bằng nứa cha đan, từng cọng nan cha vót tỉ mẩn, láng mướt dù màu nan có xám xịt do mưa nắng thời gian. Chỗ góc chòi, cái sạp ngồi cũng của cha làm. Bốn chân sạp là bốn gốc cây dẻ khô cứng như đá. Chòi lợp bằng lá mây lẫn lá cọ, cha có giắt vào mớ lá quế khô. Cha nói lá quế thơm làm sâu mọt không dám lại gần mà ăn, mà phá. Một bên góc khác là cái giàn chất mớ lúa khô. Trộn trong từng mớ lúa cũng có lá quế thơm.
Nhớ ngồi xuống sạp, thả cái gùi cũ ra. Cái cicak của mẹ thời mồ ma, theo mẹ lên rừng, xuống suối, mẹ bỏ vào bên trong là con rựa, là ống nước. Sáng đi có thêm khoai, măng luộc, chiều về có thêm rau, ốc... Lẽ ra nó phải được chia của cho mẹ khi mẹ mất, nhưng cha lại giữ lại. Rồi hôm người ta khiêng cha vào rừng ma, Nhớ cũng định bụng chia của cho cha cái gùi cũ ấy, nhưng chợt nghĩ, cái gùi cha đan, cái gùi mẹ mang, thì đến đời anh cần phải giữ nó.
Nhớ hồi hộp lấy cái bọc vải dù trong gùi ra, cái gói vải cũ kĩ đầy bụi. Anh giở từng lớp vải, một cây dao găm ngắn chừng gang tay, một cuốn sổ nhỏ.
Nhớ lật trang đầu, tấm ảnh đen trắng rơi ra. Một gương mặt hiền lành với đôi mắt đen lay láy nhìn anh. Cái lạnh chạy dọc sống lưng. Lần này tim Nhớ đập dồn dập. Hồi hộp hơn cả lần đầu anh đi săn, ngồi giương nỏ rình con man khi nó lò dò đi tới. Anh sờ trên tấm hình. Gương mặt, đôi mắt ấy quen quá. Hình như nó hệt cái bóng của Nhớ dưới những con suối mỗi lần anh đi qua soi mình xuống. Nhớ run run cầm tấm hình, anh dụi mắt nhìn cho kĩ...
*
Có những mầm xanh không bắt đầu mọc lên từ gốc cũ. Già làng Đăm thường hay nói vậy. Cái quan trọng mình chăm bón nó như thế nào để nó sống tốt. Như người Mơ Nông, người Ca Dong mình, những đứa trẻ lớn lên không còn phân biệt đứa nào là Mơ Nông, đứa nào là Ca Dong. Chúng đều là con của nóc Tắk Mưng. Lớn lên, chúng đều là con của núi Dúa. Người chi cũng được, miễn là phải biết giữ nóc, giữ lửa nhà rông. Đàn bà phải biết điệu múa xoan, đàn ông phải biết đánh chiêng, đánh trống. Già Đăm dặn như vậy trong mỗi đêm múa xoan ăn mừng Lúa mới.
Thác giắt cái rựa lên gùi phía sau lưng, lần hồi xuống núi. Bóng chiều nhập nhoạng đổ trên lưng chừng núi, trên các triền rẫy, như mật ong. Mấy hôm nay, nghe súng nổ bên kia sườn núi, thêm tiếng trực thăng quần riết như lũ diều hâu mất tổ. Hình như bên kia đỉnh Ngọc Klinh có đánh nhau dữ dội. Thác đi ngang một lùm cây, có tiếng rên khe khẽ phát ra. Anh giật mình quay lại. Một anh bộ đội Giải phóng. Thác run lên. Người chiến sĩ Giải phóng một tay vẫn ôm súng, nửa thân hình đầy máu.
Đó là cuộc gặp gỡ định mệnh. Chẳng cần biết người lính ở đơn vị nào, chỉ biết đó là bộ đội Cụ Hồ, không phải bọn giặc thả bom cháy nhà, chết người, chết bò nóc mình. Mang về nhà sợ đàn bà trong nóc hay chỉ trỏ, thế là Thác để người lính lại trên chòi rẫy. Anh thường xuyên lên rẫy hơn, có hôm ở lại trên chòi. Cái chòi lá cô độc giữa lưng chừng núi Dúa ấm hơn khi có người.
Một chiều, sau cơn mưa dông sớm, Thác gùi đồ xuống núi. Anh định bụng sẽ đi thăm mấy cần bẫy đặt hai hôm trước, rồi tiện thể kiếm vài con cá suối nấu bữa tối cho Quang, người thương binh cần bồi bổ đó. Thác vui như con suối róc rách khi thấy hôm nay vết thương của Quang đã lành, sức khỏe khá hơn, chỉ vài hôm nữa là anh đi tìm lại đơn vị mình.
Bóng chiều nghiêng nghiêng trên lưng chừng núi, sau trận mưa sớm, núi đồi, thung lũng trong vắt. Xa kia, ngọn Răng Tủa đã có khói đá là là từng mảng. Đâu đó, tiếng con bìm bịp kêu dưới thung xa nghe u trầm. Thác dừng lại, đưa tay níu bẻ một nhánh rau rừng còn đọng mấy giọt nước mưa long lanh.
Anh nghe có tiếng động. Đôi tai thính như con mang rừng, Thác nấp vào một gốc cây chò to. Tiếng động kia cũng im bặt. Anh tin vào tai mình, âm thanh vừa nghe không thể nào là của loài thú. Sau cơn mưa dông, lá rừng ẩm ướt, không còn khô lạo xạo, nên chân con mang, con cheo không thể gây ra tiếng động lớn đến thế. Heo rừng thì càng không. Cái lũ heo rừng mũi thính, cách cả chục mét nó đã ngửi thấy mùi người, mà đã ngửi thấy là chúng hục hặc, ụt ịt lên rồi.
Ba phút... năm phút trôi đi, Thác vẫn kiên gan đứng chờ. Tiếng động lại lạo xạo. Một... hai... ba. Có tất cả ba gã đàn ông to lớn, râu ria xồm xoàm, mang ba lô rằn, tay lăm lăm súng, đội mũ nồi. Bọn biệt kích.
Thác nghe tim mình đập thình thịch. Chúng nhắm về hướng chòi trên lưng chừng rẫy. Một mình Quang trên chòi, dù vết thương đã lành miệng nhưng không thể chống chọi lại với cả ba được. Vả lại, bọn này đi như con cáo, làm sao Quang phát hiện. Thác với tay ra sau gùi rút cái nỏ. Phải thật nhanh và thật chính xác. Anh rút ra ba mũi tên nhọn hoắt.
Vút... phụp.
Mũi tên đầu lao đi cắm phập vào cổ tên lính sau cùng.
- Bi xi... bi xi...
Chúng xù xì lên mấy tiếng rồi tạt vào bụi rậm hai bên đường, nã đạn về phía anh. Thác nghe tiếng đạn găm vào thân chò phầm phập. Sau hai loạt đạn thì tiếng súng im bặt, chỉ còn nghe tiếng hừ hự của gã trúng nỏ. Thác hồi hộp, mũi tên thứ hai đã cài vào nỏ. Cả hai bên đang thủ thế. Thác chẳng biết chúng trốn chỗ nào. Chúng quá nhanh. Nếu để chúng rút dần lên phía trên lưng chừng rẫy thì nguy. Mình phải là người ra tay trước dụ chúng. Thác nhô người ra ném một hòn đá to.
Phằng... phằng... Loạt đạn chát chúa vang lên. May mà anh đã rất nhanh, thụt mình vào gốc chò. Vậy là Thác đã biết vị trí của một trong hai bọn chúng. Con đường này anh đi lại hằng ngày, thuộc đến từng hòn đá nhỏ nên không thể nào phán đoán sai được. Một thằng nấp sau bụi cây gai. Vậy còn một thằng nữa ở đâu? Giờ anh không còn thời gian để nghĩ nhiều. Nhỡ Quang nghe tiếng súng mà lao xuống, tụi chúng phát hiện thì nguy to. Thác xoay người.
Vút... hự...
Mũi tên thứ hai nhằm đích anh định hướng mà lao.
Phằng...
Đồng thời, phía lùm cây bên kia, tiếng súng đáp trả. Thác ngã nhoài người xuống, nằm sõng soài bên cái chang rễ to.
Phằng...
Anh lại nghe tiếng súng chát chúa vang lên. Nhưng, lần này không nghe đạn trượt qua phía anh. Phía bụng dưới của Thác, chỗ giữa hai chân, nhói đau, máu bắt đầu túa ra. Tay anh cố gắng bịt chặt vết thương. Mồ hôi lạnh rịn ra trán, Thác thở dốc, mắt mờ dần.
Hình như, có chiếc lá quế rơi nhẹ, đậu xuống mặt anh. Bầu trời lỗ chỗ dưới vòm cây chò đen dần... đen dần...
- Thác... Thác...
Trong mơ hồ, Thác có nghe tiếng ai đó gọi mình.
Thác mở mắt, cặp mắt anh nặng trĩu, nặng hơn cả mỗi lần anh gùi củi, gùi lúa trên rẫy; nặng hơn cả cái lần anh hì hục vác con nai lớn săn được từ trên đỉnh núi Răng Tủa bên kia về. Lần đó, già làng Đăm nói vai thằng Thác đã gánh vác được cái nóc Tắk Mưng này, chờ đến tuổi già làng gả con Mây cho Thác. Thác đỏ mặt lừng lựng như mặt trời sắp xuống núi. Thác cố gắng một lần nữa mở cặp mắt ra. Nắng rọi qua tấm phên đổ giọt ran rát lên mặt, Thác thấy ai như Mây ngồi đó, phía đuôi sạp. Là Mây. Đúng là Mây.
Mây nắm đôi bàn tay Thác, đôi bàn tay thô cứng đầy vết chai nằm gọn trong bàn tay mềm mại mát rượi của Mây. Mây khẽ kéo tấm màn vải dù đắp cao lên người anh. Mây không nói gì, cô đặt lại bàn tay anh lên ngực rồi quay lưng về phía bếp. Thác nhìn theo, Mây ngồi đó nhóm lửa, cô xoay lưng lại phía anh, đôi vai Mây run run như ngọn lửa gặp phải con gió nào đi lạc.
Quang bước vào, đôi mắt thâm quầng, có lẽ đã thức nhiều đêm. Quang ngồi xuống cạnh anh, cả hai nhìn nhau, im lặng. Thác trở mình, anh nghe đau nhói phía bụng dưới.
*
Mây vá lại chiếc áo của Quang, chiếc áo anh đã xé mất một mảnh để băng bó vết thương cho Thác ngày anh phát hiện Thác bị nạn. Mây tỉ mẩn vá bằng một mảnh vải thổ cẩm. Bàn tay trắng muốt, mềm mại thoắn thoắt đưa từng mũi kim. Thác ngồi đó, dựa lưng vào vách, nhìn Mây, khói bếp trong căn chòi bay lên, bện vào Mây. Người con gái Mơ Nông ngồi trước mặt anh giờ thấy mơ hồ quá. Anh kéo nhẹ tấm vải dù đắp trên mình. Thác nhắm chặt mắt.
Giấc mơ về một mái nhà sàn nhỏ, Mây ngồi dệt tấm thổ cẩm đen đỏ, chen những đường chỉ trắng thiệt đẹp. Những đứa trẻ quẩn bên chân mẹ nghịch phá từng sợi vải đay. Thác trở về từ rẫy, cái gùi nặng trịch những măng, củi và có cả mớ trái bứa rừng vàng chành, ngọt lịm. Lũ nhỏ chạy lon ton ra cầu thang ôm lấy chân cha. Đứa con trai sẽ có đôi mắt tròn đen láy, sáng như sao phía đầu ngọn núi Dúa vào những đêm trong trời và tinh như mắt con gà rừng. Đứa con gái sẽ có nước da trắng ngần như hoa dẻ, mái tóc dài mượt như ngọn nước từ Tắk Ngo chảy về...
- Về đi, Mây. Về nhà lấy chồng đi. Trai nóc thương mày đầy ra như lũ dúa trên núi, như lũ cá niêng, cá sốc dưới suối. Tau không còn làm chồng mày được nữa. Mây à...
Bữa đó, Thác đã nói nhiều những lời cay nghiệt, nhiều như mây đen mùa đông về bâu đầy trên ngọn núi Dúa. Mây khâu áo cho Quang mà bàn tay run run, mũi ngắn mũi dài. Rồi, Mây không thèm khâu nữa, ném lại cái áo, lao ra khỏi chòi, chạy về phía dốc rẫy trong nắng chiều trộn lẫn khói bếp bủa giăng giữa lưng chừng núi.
Quang từ ngoài chòi trở vào, thấy Thác cười, nụ cười mếu xệch.
- Người đồng bào tụi tau có chồng mà không đẻ, ba năm sau sẽ bị đuổi ra khỏi nóc, sống trong rừng ma đó. Tau không muốn Mây sống trong rừng ma.
Quang lặng im không biết nói gì. Khuyên Mây bỏ Thác là điều không thể.
- Đi đi... Mày thuộc về Mây, hãy thương lấy cuộc đời Mây... Thác gào lên.
Quang nhìn sâu vào mắt Thác, rồi anh chạy ra khỏi chòi, lao nhanh về phía con suối. Bóng Quang khuất dần phía triền dốc. Gió chiều đưa hương quế thoảng thơm dìu dịu. Gió bạt ngàn xô rẫy lúa đang mùa kết sữa xanh mườn mượt. Rồi, sẽ có mùa lúa rẫy trĩu hạt.
Quang về chòi khi trời nhá nhem tối. Bộ quần áo trên người ướt nhẹp. Anh ngồi nhóm lửa, hong bộ quần áo. Những que củi quế khô bén lửa nổ tí tách, khói cuộn lên mùi thơm dịu. Quang im lặng, không nói gì, chỉ nhìn thôi miên vào bếp lửa. Dường như trong lòng người con trai đó có gì xáo trộn.
Con người ta đâu nhất thiết phải sống đến trăm năm, chỉ một khoảnh khắc, một khoảnh khắc hãn hữu thôi nhưng khoảnh khắc ấy đem lại ý nghĩa cho cuộc đời thì cuộc sống coi như đã đủ đầy rồi. Quang nghĩ vậy. Anh nhìn khói, những lọn khói len qua mái lá căn chòi, bay lên, rồi chẳng biết đi về đâu. Ngọn khói mỏng gợi cho anh những nỗi nhớ, về quê nhà, về người thân, về Ánh... Hôm nay, ngọn khói lặng im, như đồng lõa với anh về hành động ban chiều bên bờ suối. Anh thấy mình như ngọn khói. Chỉ khác là ngọn khói muôn đời tìm đường bay lên, còn anh, anh phải bám víu vào đất, phải giữ đất, phải chiến đấu.
Ngày mai trở lại đơn vị, xuôi vào chiến khu D, chiến khu anh cũng chỉ nghe tên trong những ngày nhập ngũ chứ chưa một lần được đến. Nhưng, mệnh lệnh từ trái tim thúc giục, anh phải từ giã chiếc chòi tranh ấm tình người và người bạn đã cứu cho anh sự sống. Cũng chính anh đã đưa người bạn từ cõi chết trở về. Rồi, phải xa cả người con gái tên Mây mà số phận éo le đã đẩy Mây vào giữa vòng xoáy tình yêu của hai người đàn ông có hai cuộc đời khác biệt. Phải từ biệt tất cả thôi, để anh tiếp tục lên đường thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng.
Thác trở mình dậy, lần hồi lại bên bếp lửa, ngồi xuống cạnh Quang. Anh nhìn những vết ửng đỏ trên vai, trên cổ Quang. Rồi nhìn vào đống lửa. Bóng đêm bên ngoài đã đổ sụp bao trùm lấy căn chòi, bao trùm cả ngọn núi Dúa. Hai người đàn ông ngồi đó. Không nói với nhau lời nào. Rất lâu. Có con gió nào đi lạc ngoài kia xô rặng quế xào xạc. Lẫn trong tiếng gió có tiếng nước chảy róc rách. Là tiếng nước của con suối Tắk Ngo, cái con suối nuôi người trong nóc, sống cùng người nóc, rồi khi họ chết, thầy cúng cũng rửa xác bằng nước con suối ấy trước khi làm ma. Cả nóc tin, Thác tin là con suối hiểu người. Nước suối trong đêm nghe đồng vọng.
- Ngày mai tôi phải đi.
Quang phá tan sự im lặng.
- Mày không ở thêm à, Quang?
- Đã hơn một tháng rồi. Đồng đội cần tôi. Kháng chiến cần tôi.
Quang chụm thêm vào bếp mấy cành củi. Ngọn lửa chờn vờn soi rõ bóng hai người trên vách nứa. Cả hai không nhìn vào mắt nhau, nhưng họ biết trong thẳm sâu mắt họ đều có ngọn lửa tí tách.
Đêm đó, Quang đã nói cùng Thác. Rất nhiều. Về anh. Về Mây. Về buổi chiều bên con suối. Rồi, cả về vùng quê Kinh Bắc có con sông Cầu uốn lượn. Những cánh đồng lúa mênh mông xanh mượt. Những cô gái quan họ mặc áo mớ ba mớ bảy, đội nón quai thao duyên dáng trong lễ làng. Là những đêm hội hát giã bạn. Lời thủ thỉ của Quang trong đêm giữa lưng chừng núi Dúa nghe thấm sâu vào Thác.
- Hay là ngày mai tau cũng đi kháng chiến, Quang à?
Quang nhìn lên. Lần đầu Quang nhìn kĩ con người ngồi trước mặt anh, một người thanh niên Mơ Nông có đôi vai rộng tựa vách đá. Đôi mắt màu đồng thau rất hiền. Mái tóc xoăn như lọn mây trong trời chiều. Suốt những năm cầm súng, anh đã từng gặp bao cái chết. Anh nhớ tới cái chết của cô giao liên ở Khe Sanh khi bị bom dội, một mảnh bom ghim vào ngực, chiếc áo trắng đỏ ối màu cờ. Anh nhớ người đồng hương đỡ cho anh viên đạn và vĩnh viễn nằm lại trong trận đánh đồn Thượng Đức, Đại Lộc. Nhớ tới những ngôi mộ có nắm đất khum khum không tên không tuổi giữa rừng Trường Sơn bạt ngàn hùng vĩ mà anh gặp khi đơn vị hành quân qua...
Chiến tranh có chừa một ai. Chiến tranh đẩy con người ta lìa xa người thân, lìa xa quê hương. Xa đến mức có thể vĩnh viễn không bao giờ trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Ngày mai anh đi, anh cũng như rẻo mây trên lưng chừng núi Dúa, như ngọn khói bay lên khỏi căn chòi không biết có tìm được nẻo về.
Anh không muốn Thác, người con của núi, phải như anh. Anh phải neo người con trai ấy ở lại nóc. Hơn ai hết, anh muốn Thác sống. Vì Mây. Vì cả nóc. Dù rằng, anh chưa biết, có thể ngày mai giặc quầng lên thả bom vào Tắk Mưng. Nhưng, ít ra, ngay bây giờ, anh vẫn có một niềm tin rằng thần linh nơi núi Dúa sẽ bảo vệ bình yên cho dân nóc này.
Mày phải ở lại nóc, mày phải là chỗ dựa cho Mây, cho dân nóc. Quang đã nói nhiều hơn những lời đó với Thác, nói nhiều như nước con suối Tắk Ngo mùa lũ. Đêm núi Dúa, có những đêm dài dằng dặc những tưởng mặt trời chẳng bao giờ mọc. Họ nói chuyện với nhau đến mấy lần lửa tàn rồi lại cháy. Ánh trăng muộn nhô lên, cong cong như lưỡi rựa sau nhiều mùa làm rẫy, từ màu vàng của lá quế rụng chuyển sang màu trắng ngà, màu của bông hoa dỗi. Có tiếng con gà rừng vừa gáy sớm. Họ cặm cụi viết điều gì đó vào một cuốn sổ. Quang gói chiếc dao găm nhỏ và cuốn sổ vào mảnh vải cắt từ chiếc chăn làm bằng tấm dù pháo sáng, trao tất cả cho Thác.
Quang bước ra khỏi chòi rẫy trong nhờ nhợ sương giăng. Núi Dúa mịt mùng trong sương mai, trong khói đá. Người lính trẻ nhằm hướng Ngọc Klinh mà băng đi. Không ngoái đầu nhìn lại. Anh đi vội vã. Có lẽ, không phải sợ trời sáng mà sợ lát nữa phải đối diện với ánh mắt trong trẻo nào đó, cũng có thể. Đằng sau lưng, Thác đứng trước cửa, vịn tay vào tấm phên nứa, dõi mắt theo. Cái bụng người con trai xứ núi rộn lên ngổn ngang bao điều, như rừng chiều chuyển mưa, như nóc Tắk Mưng sắp vào mùa lễ hội, như những rẫy lúa chín giữa lưng chừng núi Dúa vào ngày lẩy bông...
*
“Núi Dúa, ngày... tháng... năm...
Mình đã được một người anh em Mơ Nông đem về từ cõi chết...
...
Núi Dúa, ngày... tháng... năm...
Tau và Mây sẽ đặt tên cho đứa bé là Nhớ. Nó sẽ mang họ Hồ, họ của Bác Hồ như dân làng chúng tau. Con gái là Hồ Thị Nhớ. Con trai sẽ là Hồ Khắc Nhớ. Nếu hòa bình mà mày không về như lời hứa, tau sẽ cất bí mật này cho đến khi xuống mồ. Lời của mày, lời của tau nói ra hôm nay như rìu chặt vào cây”.
Một cuốn nhật ký có lưu hai nét chữ. Nhớ sờ tay vào từng nét chữ nguệch ngoạc, có giọt nước nào đó rơi xuống trang giấy ám khói. Anh lật đi lật lại tấm ảnh đen trắng, rồi xếp nó lại vào cuốn sổ, gấp tất cả ngay ngắn trong tấm vải dù, bỏ lại vào chiếc gùi cũ. Anh thở, một hơi thở dài như gió qua triền đồi. Nhớ đứng dậy, ra khỏi căn chòi...
*
Giữa lưng chừng núi Dúa có căn chòi nhỏ lộng gió. Đứng ở đó nhìn ra mênh mênh một màu xanh thẳm. Xa kia là ngọn Răng Tủa bên nóc Tắk Pổ. Xa bên trên là đỉnh Ngọc Klinh sừng sững. Và, nhìn xuống chân núi Dúa, nóc Tắk Mưng nhỏ bé, hiền lành, mấy ngôi nhà sàn nép mình dưới những rặng quế xanh mượt.
Núi Dúa vẫn ở đấy nhìn con suối Tắk Ngo đầy rồi cạn theo từng mùa; nhìn rẫy bắp, rẫy lúa xanh rồi vàng rộ; nhìn mây đến đậu đầy rồi lại đi. Có ngọn khói nào đó chiều chiều ngã chênh chao theo từng con gió. Mây vẫn lặng im. Khói vẫn lặng im. Và, núi vẫn lặng im. Như con người ta gìn giữ những bí mật cho nhau tới cuối đời. Bí mật giữa lưng chừng núi Dúa.