Sáo trúc Nia Do

Đứng giữa mây trời biên giới, Đài tự hứa với lòng mình, sẽ coi bản làng là quê hương thứ hai, coi bà con là ruột thịt, để mỗi bước chân tuần tra trên những đỉnh núi cao này đều góp phần giữ vững bình yên cho địa đầu Tổ quốc.

Cứ dịp đầu xuân, A Sùng lại tất bật chuẩn bị làm sáo để đem đi bán ở chợ tình. Chợ tình Khau Vai đông lắm, người từ khắp các bản làng đổ về, người Mông, người Giáy, người Dao đủ cả, không khí rất nhộn nhịp. Chỉ tiếc là mỗi năm họp đúng một lần, sáo bán dịp ấy cũng chỉ đủ trang trải chút ít cho cuộc sống của gia đình mà thôi. A Sùng là chàng Mông bản Nia Do, tuy rằng bản nghèo và xa tít trên núi, nhưng Nia Do lại có một rừng trúc làm sáo rất đẹp. Khắp cái Đồng Văn này, ai cũng muốn sở hữu một cây khèn, một chiếc sáo từ trúc Nia Do.

A Sùng có đôi tay khéo léo và một tâm hồn nhạy cảm, cậu có thể gọt giũa những thanh trúc rừng thành những cây sáo mèo có âm sắc mê hoặc. Tuy nhiên, dù sáo của A Sùng hay đến đâu, cuộc sống của cậu vẫn quẩn quanh với cái nghèo và heo hút trên bản. Sáo làm ra chỉ để treo vách nhà hoặc mang ra chợ phiên đổi lấy vài cân muối, túi gạo mà thôi. Yêu khèn sáo, nhưng A Sùng không biết làm sao dùng thứ nhạc cụ ấy để giúp cuộc sống này trở nên tốt hơn, A Sùng không muốn chỉ dừng lại như bố, dùng cả cuộc đời mình để thổi khèn đám ma rong ruổi khắp bản làng.

Sau sáp nhập, cơ chế đơn vị có nhiều thay đổi. Công an xã bổ sung số lượng lớn cán bộ chiến sĩ từ các phòng ban về nhận nhiệm vụ mới. Lúc này có nhiều lá đơn xin về vùng biên giới công tác, trong đó có lá đơn của Trung úy Đài. Cậu thanh niên trẻ tuổi, quê Thái Bình. Đài không chỉ là một chiến sĩ Công an năng nổ với nhiệm vụ giữ gìn an ninh, mà còn là một "nhà sáng tạo nội dung" (Content Creator) có tiếng trên các nền tảng mạng xã hội.

Ngày lên nhận công tác tại Công an xã Sì Thầu, trong lòng người chiến sĩ trẻ miền xuôi là một sự xáo trộn mãnh liệt giữa ngỡ ngàng và xúc động. Rời xa những con phố bằng phẳng, tấp nập ánh đèn, Đài đối mặt với sự hùng vĩ đến choáng ngợp của những dãy núi đá tai mèo xám xịt, nhấp nhô như sóng biển hóa thạch dưới bầu trời mịt mù phủ sương. Cái lạnh vùng cao luồn qua lớp quân phục, thấm vào da thịt, nhưng dường như lại làm ý chí trong lòng Đài thêm sắc bén. Nhìn những bản làng tinh khôi mờ ảo trong mây, nơi con đường mòn vắt vẻo bên sườn đại ngàn, Đài mới thấu hiểu hết định nghĩa về hai chữ "gian khổ" mà các bậc tiền bối vẫn thường kể. Tuy nhiên, chính nụ cười hồn hậu của những đứa trẻ vùng cao và ánh mắt hiền lành, sáng trong, đầy tin cậy của bà con dân bản khi thấy sắc áo xanh thấp thoáng nơi đầu dốc đã sưởi ấm trái tim Đài, giúp anh quên đi những vất vả mệt nhọc nơi biên cương xa xôi hẻo lánh này.

Với Đài, một người lính Công an trẻ tuổi vừa ra trường, đầy ắp những mộng mơ và khát vọng cống hiến, đây không chỉ là một chuyến đi nhận công tác, mà là sự bắt đầu của một hành trình tự nguyện dấn thân để có thể cống hiến cho quê hương, cho Tổ quốc. Đứng giữa mây trời biên giới, Đài tự hứa với lòng mình, sẽ coi bản làng là quê hương thứ hai, coi bà con là ruột thịt, để mỗi bước chân tuần tra trên những đỉnh núi cao này đều góp phần giữ vững bình yên cho địa đầu Tổ quốc.

sao-truc-nia-do-mh-bui-quang-duc-vnca-821.jpg
Minh họa: Bùi Quang Đức

Tại Công an xã Sì Thầu, Đài nhận trách nhiệm quay, dựng những video tuyên truyền an toàn giao thông đường bộ, tuyên truyền xuất cảnh lao động trái phép, bạo lực gia đình,... Và đời vốn không như là mơ, Đài gặp rất nhiều thử thách khi khởi đầu tại cơ sở. Khi Đài trình bày nội dung lên lãnh đạo, lắm lúc Đài bị hoang mang bởi những yêu cầu và đòi hỏi khắt khe nhưng chính xác của cấp trên đối với lĩnh vực tuyên truyền pháp luật bằng các video, hay còn gọi là truyền thông số. Khi thì kịch bản không phù hợp bối cảnh, cần tối giản đạo cụ, điều chỉnh ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu,... khi thì phải xuống địa hình cơ sở, phỏng vấn những con người cụ thể. Cảm xúc Đài có khi chùng xuống trước những thử thách không hề đơn giản.

May thay sau đó đơn vị kết nối với trường bán trú xã, nhờ một cô giáo người Mông hỗ trợ Đài trong việc gần gũi hóa nội dung tuyên truyền, đặc biệt còn dịch cả video sang tiếng Mông cho dễ tiếp cận với bà con. Cô giáo ấy là Mai, cô gái Mông người bản địa, xinh xắn tươi tắn như đóa hoa rừng, vừa có nét đẹp thuần khiết tự nhiên, vừa có khí chất người con của núi rừng hoang sơ mà dũng mãnh. Mặc dù đã 24 tuổi, với nhiều cô gái Mông, hầu hết tuổi này đã bíu rìu hai, ba đứa con; riêng Mai hình như vẫn còn ẩn giấu những khát vọng cống hiến. Còn Đài vừa có sự ga lăng của chàng trai làng biển, vừa có sự tinh tế, nhẫn nại, từng trải của người chiến sĩ Công an. Hai người trẻ vừa gặp nhau đã cảm thấy rất gần gũi, đồng cảm và dễ làm việc. Lắm lúc Đài cảm thấy cô giáo Mai chính là chiếc phao cứu sinh của mình, từ sự góp ý của Mai, những video tuyên truyền của anh dần được đơn vị phê duyệt và các buổi tuyên truyền đều thu hút được đông đảo bà con dân bản, kết quả rất thành công.

Mỗi lần đi vào bản khảo sát để chuẩn bị việc tuyên truyền, Đài lại lấy điện thoại của mình ra ghi chú những ấn tượng và suy nghĩ mình quan sát, cảm nhận được. Đặc biệt là phải ghi tên bản thật rõ để còn nhớ. Mai để ý từng hành động đó của anh, cô nhìn thấy sự cố gắng, nỗ lực của người cán bộ tâm huyết, những hành động thực tế ấy đã giúp Đài rút ngắn dần khoảng cách với bà con.

Lần ấy đến bản Nia Do, Đài cũng sẵn tinh thần như thế, chuẩn bị ghi chép lấy tư liệu. Vừa dừng xe đỉnh dốc nhìn về bản, Đài đã có một cảm giác vô cùng đặc biệt. Rõ ràng là heo hút núi đá, xung quanh làng cũng là đá, chỉ có thưa thớt vài gốc sa mộc bám được ở đây, mà không ngờ trước mắt lại hiện lên một khoảng xanh mát rượi. Mai giới thiệu đó là cây trúc, cô còn nói với anh nhất định sẽ có nhiều bất ngờ hơn nữa ở Nia Do.

Nia Do vốn là một phần của vùng núi đá khắc nghiệt nhất, nơi những gia đình người Mông quanh năm bám nương, trồng ngô trên đá, sống nhờ sức lao động và sự chịu đựng bền bỉ. Cuộc sống thiếu thốn, quanh quẩn với nương rẫy, cái ăn cái mặc lúc nào cũng là nỗi lo. Trong hoàn cảnh ấy, những lời rủ rê sang bên kia biên giới làm thuê trở thành thứ rất dễ đánh vào tâm lý người nghèo. Người ta nói bên đó có việc, tiền công cao, chỉ cần chịu khó vài tháng là có thể mang về một khoản mà ở nhà làm nương rất lâu cũng chưa chắc kiếm được.

Vậy là từ một bản heo hút trên núi, những người đàn ông trụ cột tất bật lên đường đi làm ăn xa. Một hành trình biết thừa rủi ro, thậm chí là đánh cược cả tính mạng. Chuyến này đến Nia Do, chính là tuyên truyền về vấn nạn xuất cảnh lao động trái phép qua các lối mòn tiểu ngạch vùng biên.

Hôm ấy ngoài phần video đã chuẩn bị chiếu cho bà con xem, thì Mai có mời A Sùng lên thổi một bài sáo giao lưu để không khí thêm gần gũi. Đài bất ngờ và hoàn toàn bị thu hút bởi tiếng sáo mèo trầm bổng, lúc réo rắt như suối chảy, lúc âm u như rừng già. Đài nhận ra đây chính là "kho báu" bị bỏ quên tại Nia Do.

Kết thúc buổi tuyên truyền, anh lại gần A Sùng để hỏi thăm và bắt đầu nhen nhóm một sự hợp tác: A Sùng này, tiếng sáo của cậu xứng đáng vang xa hơn đấy!...

Sau buổi tối hữu duyên gặp gỡ cán bộ Đài, A Sùng về nhà, lòng dâng tràn hy vọng. Chở và thằng A Lầu đã ngủ say, nhưng A Sùng cứ thao thức mãi về những điều cán bộ nói. Cả năm nay không mua được chiếc váy mới nào cho Chở; xuống chợ phiên, hôm nào bán được 4-5 cây sáo thì mới dám nhặt một chiếc đồ chơi ô tô nhỏ xíu về cho con trai. A Sùng có thể ăn đói mặc rét nhưng nhìn vợ con túng thiếu thì không chịu được. Ngày xưa, tiếng sáo lảnh lót của cậu đã dẫn Chở về làm dâu nhà này. Từ một cô gái mơn mởn, trắng hồng như đóa tam giác mạch, mà sau ba năm làm cô dâu của A Sùng, Chở giờ đây khác quá. Mái tóc giấu kỹ dưới lớp khăn phai màu, sự hồn nhiên trong ánh mắt năm nào giờ đây chất chứa bao tâm sự, vất vả. A Sùng thương vợ lắm.

A Sùng cũng nghĩ về bố, về trăn trở tìm người nối nghiệp thổi khèn. Bố A Sùng là một nghệ nhân khèn, công việc của nghệ nhân khèn ở xứ đá chủ yếu là thổi vào dịp lễ đám ma khô. Người ít nghe thì thấy điệu khèn nào cũng na ná giống nhau, nhưng thực chất có nhiều hơn số giai điệu mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Như điệu khèn "Mời linh hồn" (Kềnh hủa lồ), điệu khèn "Chỉ đường" (Kềnh mông), điệu khèn "Tiễn biệt" (Kềnh tống),.... Trong đám ma khô, tiếng khèn đóng vai trò như một lời tự sự, thổi xuyên suốt đám ma, mỗi bài mang một ý nghĩa riêng, kết hợp những động tác quay vòng, nhún nhảy để đánh thức linh hồn của người chết, để thông báo rằng gia đình đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật tiễn đưa họ. Tiếng khèn cũng như một bản đồ âm thanh, dẫn linh hồn người đã khuất về với tổ tiên. Nhịp điệu lúc trầm lúc bổng, khi quyến luyến, day dứt, khi lại dồn dã, thúc giục. Sau cùng, tiếng khèn như một lời chúc phúc cho linh hồn được bình yên ở thế giới bên kia.

Bố A Sùng có nhiều chiếc khèn buộc đầy dây vải đỏ treo trên tường, mỗi một sợi dây là đánh dấu cây khèn ấy đã dẫn lối cho một linh hồn về với tổ tiên của họ. Nghệ nhân thổi khèn đám ma khô rất được dân làng quý trọng, người nghệ nhân cũng là người sống rất giản dị, ôn hòa. Nhưng cuộc sống của gia đình thì không thể phụ thuộc vào tiếng khèn của bố. Sự nghèo túng, thiếu đói vẫn len lỏi khắp mọi nhà.

A Sùng trân trọng tiếng khèn của bố, nhưng cậu muốn phát triển tiếng sáo của mình. Với A Sùng, sáo Mèo chưa bao giờ chỉ đơn thuần là một nhạc cụ, cũng như khèn, sáo chính là một phần "linh hồn" của chàng trai Mông, là tiếng nói tâm tình kết nối giữa con người với thiên nhiên, giữa cá nhân với cộng đồng. A Sùng muốn mang tiếng sáo của mình bay xa thật xa, xa khỏi đất Đồng Văn này.

Chỉ có điều, những ngọn núi ở đây cao quá, A Sùng tự nhủ, "chắc tiếng sáo mình cũng chỉ bay được đến đỉnh núi bên kia mà thôi".

Tiếng thở đều của vợ con bên cạnh càng khiến A Sùng có thêm quyết tâm đặt niềm tin vào cán bộ, nhất định cho vợ con có cuộc sống tốt hơn.

Sớm hôm sau, khi vợ con còn chưa dậy, A Sùng quyết định xuống xã để tìm cán bộ Đài. Mặc cho trời rét buốt và con đường mòn đầy đá nhọn đang chìm trong bóng tối cùng cả đám sáo đang khoét dở ở nhà, Sùng nhất quyết đi. Phải làm thôi, không thì muộn mất.

Đài bất ngờ khi A Sùng đến tìm mình sớm quá, nhưng anh không dám chần chừ, bởi ngay lúc này, chỉ cần một chút lưỡng lự là Đài sẽ không bao giờ gặp lại ý chí này thêm một lần nào nữa. Anh gọi cô Mai đến hỗ trợ bàn bạc kịch bản với A Sùng, lên được lộ trình cụ thể và chọn bối cảnh thích hợp để quay video, chính thức hỗ trợ A Sùng khởi nghiệp từ bản Nia Do.

Sau đó là chuỗi ngày dùng chiếc điện thoại và thiết bị quay phim chuyên dụng của mình để ghi lại quá trình A Sùng tỉ mẩn chọn trúc, khoét lỗ sáo và thổi những bản nhạc cổ truyền giữa khung cảnh hùng vĩ của cao nguyên đá Đồng Văn, đôi khi sẽ thêm vài câu thoại ngắn của A Sùng. Ban đầu cậu nói rất ngượng nghịu, phải quay đi quay lại nhiều lần, nhưng được sự động viên của Đài, A Sùng ngày càng mạnh dạn hơn. Đài dành hết thời gian nghỉ của mình để chỉnh sửa video cho A Sùng, từng video là hy vọng của A Sùng, là niềm tin của cô giáo Mai và cũng là tâm huyết của Đài.

Những video đầu tiên chỉ có thưa thớt lượt xem, có vài bình luận tò mò cảnh quay đẹp, cũng có những bình luận chê nhân vật trong video nói ngọng quá, nghe rất buồn cười, thổi sáo thì hay đấy nhưng tốt nhất không nên nói chuyện,... A Sùng bắt đầu nản và thất vọng về bản thân, nhưng Đài biết đó chỉ là những khó khăn ban đầu, mình cần phải đón nhận và khắc phục. Đài động viên A Sùng, còn bản thân thì cố gắng nghĩ cách điều hướng nâng cấp nội dung làm video phong phú và hấp dẫn hơn.

Đài không chỉ quay thuần túy nữa, mà anh lồng ghép vào đó những câu chuyện văn hóa người Mông. Đài hỏi cặn kẽ những kiến thức ấy từ Mai, từ A Sùng rồi viết thành bài có nội dung vừa hấp dẫn vừa bổ ích cho người xem. Có hôm thì giải thích về ý nghĩa của bài sáo, có hôm thì ý nghĩa của cây trúc, cái khèn,...

Đúng như dự đoán của Đài, những video ấy nhanh chóng được truy cập với số lượng vô cùng lớn. Nhìn thành quả trong máy điện thoại mà A Sùng mừng rơi nước mắt. Vậy là mọi cố gắng, nỗ lực đang từng bước thành công rồi.

Những đoạn video "triệu view" của Trung úy Đài nhanh chóng tạo nên cơn sốt. Người ta không chỉ mua sáo vì âm thanh, mà còn dừng lại vì câu chuyện bảo tồn văn hóa, tuyên truyền pháp luật mà Đài và A Sùng thực hiện.

Đài tạo tài khoản và hỗ trợ A Sùng mua một chiếc điện thoại mới, hướng dẫn A Sùng cách dùng ứng dụng, phản hồi người xem và khách hàng. Dần dần, A Sùng thành thạo sử dụng nền tảng thương mại điện tử để bán sáo và thổi sáo cho người hâm mộ nghe. Từ quay video, đăng video, A Sùng biết livestream, mở gian hàng, nguồn thu nhập gia đình ngày càng ổn định. Không chỉ bán sáo, A Sùng đã biết bán kèm những sản phẩm nông sản ở quê mình, như bánh tam giác mạch, bánh đá, mật ong, thổ cẩm.

Đơn hàng đổ về từ khắp mọi miền, thậm chí là từ nước ngoài nữa. Từ một gian nhà trình tường ngả màu xám đen vì khói bếp, A Sùng đã dựng thêm một xưởng nhỏ bên cạnh nhà để sản xuất sáo mèo thủ công. Trước khi đặt tên cho xưởng, A Sùng cũng tham khảo Đài, cậu muốn một cái tên mà nó vừa gắn liền với xóm bản, vừa có ý nghĩa cơ duyên gặp gỡ cán bộ Đài. Nhưng Đài chỉ nói, hãy để cái tên thật gần gũi, chân thật như chính sản phẩm của mình là được Sùng ạ.

Và xưởng sáo mèo thủ công "Trúc Nia Do" ra đời. Cái tên ấy Đài không chê vào đâu được, bởi vừa vặn thân thuộc, vừa vặn ý nghĩa. Cả bản này vẫn luôn biết ơn trúc Nia Do, và mang chính những cây trúc Nia Do này bằng thanh âm và hình hài đi khắp thế giới.

Xưởng sáo tạo việc làm cho nhiều thanh niên trong bản, có mấy bạn nhỏ còn theo A Sùng học sáo, nói lớn lên cũng sẽ làm tíc tóc cơ (Tiktoker) như cán bộ Đài. Các chị em phụ nữ thì làm bánh, bán bánh cho vợ A Sùng. Tiền kiếm được A Sùng trả gốc cho Đài, mua thêm máy móc tốt hơn, quay được video đẹp hơn, vừa cải thiện chất lượng sản phẩm, vừa cải thiện cuộc sống gia đình, và quan trọng nhất là thắp lại niềm tự hào dân tộc trong lòng những người trẻ tuổi.

Thức dậy vào một sớm đầu năm, Đài hít hà không khí trong lành của ngày mới. Ngắm nhìn những bông đào phai còn e ấp chưa nở do năm nay mùa đông kéo dài. Vậy là đã tròn 1 năm Đài công tác tại Sì Thầu, trải qua bốn mùa của cao nguyên đá Đồng Văn, mà rõ rệt nhất là mùa đông cắt da cắt thịt, mùa mà từ tháng 11 năm trước đến tận tháng 3 năm sau vẫn còn mặc áo rét, nhưng trong lòng Đài lại dâng tràn một niềm ấm áp khó tả.

Đài tủm tỉm khi nhìn vào dòng tin cô Mai gửi đến, hẹn anh tan ca lên Nia Do thăm A Sùng. Đã từ lâu, mỗi lần lên bản là anh đều chủ động chở Mai, khoảng cách hai người cũng ngày càng gần hơn từ sau dự án anh hỗ trợ A Sùng khởi nghiệp. Mai là cố vấn mỗi khi anh cần ra nội dung mới. Mai còn vừa là người bạn, người thầy dạy Đài nói những tiếng Mông đầu tiên. Bởi vì muốn làm việc với bà con, Đài cần hiểu về họ, biết được tín ngưỡng và cá tính tộc người từ đó mới có sự đồng cảm, cởi mở và chia sẻ cùng nhau.

Một năm qua không phải khoảng thời gian quá dài, nhưng đủ để chàng trai vùng biển trở nên yêu núi rừng. Đủ để thích nghi với những con đường không bằng phẳng và thấm nhuần thêm nhiều đạo lý của cha ông.

Hôm nay ghé xưởng, thấy A Sùng treo nhiều sáo mới quá, có những chiếc trông lạ mắt nhưng lại rất nghệ thuật, còn tận dụng cả hồ lô và bùa lanh thêu chỉ màu trang trí vào cho đẹp nữa. Đúng là một chàng trai quá xứng đáng với trúc Nia Do rồi.

- Sắp đến chợ tình đấy, cán bộ và cô Mai có đi chợ tìm người yêu không? -

A Sùng vừa hỏi vừa đánh mắt về phía Đài dò xét. Đài thoáng ngượng ngùng, nhưng rồi anh nhẹ nhàng cầm lấy tay Mai và nói:

- Không phải đi tìm người yêu đâu, mà tôi sẽ đưa người yêu đi chơi.

Cả xưởng vỗ tay rào rào:

- Phải quá. Cán bộ giỏi quá! Thế là cán bộ ở lại bản à?

Mai e thẹn, định giằng tay ra, nhưng Đài nắm chặt hơn và tuyên bố:

- A Đài muốn làm thằng rể bản Mông rồi, có gì mong mọi người chỉ bảo nhé.

- Mừng quá, mừng quá, để tôi thổi tặng cặp đôi mới một bài sáo nào.

Nói rồi A Sùng cầm cây sáo mèo bóng nhất, treo cao nhất trên tường cất tiếng thổi. Tiếng sáo của A Sùng vang lên từng nhịp, từng nhịp thanh âm nhảy nhót bên tai và trong tim đôi bạn trẻ mới yêu. Mai và Đài nắm chặt tay nhau trong không gian tràn ngập tiếng sáo… Ngoài kia trai gái bản đã nối nhau đi chợ tình sớm, nắng nhảy nhót reo vui theo chiếc váy thổ cẩm khắp nẻo đường.

Truyện ngắn dự thi của Bàn Thị Liên

Các tin khác

Cây đàn dương cầm

Cây đàn dương cầm

Quyên lặng người trước tấm gương lớn sau khi nhường chiếc quạt tích điện cho em cô. Trong gương là một người phụ nữ 34 tuổi nhưng mang gương mặt đàn bà nhàu nhĩ tứ tuần. Hai hố mắt quầng thâm. Tóc tai xơ xác.

Vụ cướp xui xẻo

Vụ cướp xui xẻo

Cánh cửa lại mở, bà cụ xuất hiện, một tay vừa ôm chó vừa cầm chiếc túi Kun nhỏ, tay kia xách một chiếc túi nhựa màu đen. Tùng Hồng Nguyên đã rất quen thuộc với loại túi nhựa này, nó được các ngân hàng tặng khách hàng để đựng tiền mặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng rút số lượng lớn tiền mặt.

Chỉ vì một phút ngã lòng

Chỉ vì một phút ngã lòng

Được sự khích lệ và cổ vũ của vợ, Trương Lỗi đứng ra lập một công ty trang trí. Một năm sau, công ty làm ăn phát đạt, nhà có tiền, hai vợ chồng mua một căn hộ to đẹp. Nhưng khi cuộc sống của gia đình ngày một tốt hơn thì Trương Lỗi bắt đầu thay đổi, anh ta không chăm chỉ vào công việc làm ăn mà lại hay cùng bè bạn tụ tập rượu chè, cờ bạc

Nghệ sĩ ngoại giao

Nghệ sĩ ngoại giao

Khi kết bài, cậu phải làm sao cho nó có vị "vừa ngọt vừa đắng". Đừng có khen không, mà cũng đừng có chê hết. Phải giữ cái thế thăng bằng thì mới tồn tại được.

Ngọn đèn thức gọi dòng sông

Ngọn đèn thức gọi dòng sông

Ven bờ sông Hoài Nhân có loài hoa lạ lùng: hoa Minh Đăng, thân cứng chấp gió mạnh, lá đỏ thắm, mỗi cây đến cả bốn mùa cho chín bông hoa vàng rực có hình từa tựa lồng đèn. Hoa có mùi thơm lạ lắm, như mùi trầm thơm trên bàn thờ cứ gợi nhắc xa xăm, cứ hướng ta lên bầu trời vời vợi, ngửi lâu là chảy lệ nhớ thương...

Cô gái yêu phim Pháp

Cô gái yêu phim Pháp

Sheila lớn lên ở Sheffield, một thị trấn phía Bắc nước Anh từng nổi tiếng với sự tinh xảo của nghề dao kéo và lòng dũng cảm của các phi công không quân. Đến năm mười bảy tuổi, vinh quang của thị trấn đã phai tàn, và quý bà thời Victoria tráng lệ đã trở thành một người buồn tẻ thất vọng.

Nhầm ngăn kéo

Nhầm ngăn kéo

Bá tước DuPont không giấu nổi vẻ đắc ý. Vừa sải bước về phía phòng ăn, ông vừa lướt nhanh tấm da cừu cũ kỹ mới tìm thấy trong kho lưu trữ. Đây chính là bản đồ dẫn lối đến kho báu thất lạc của dòng họ DuPont danh giá.

Thăm người nhà

Thăm người nhà

Giữa cái nắng hanh hao của buổi chiều tại Trại cải tạo Đông Sơn, Trần Lực đang vùi đầu vào xấp hồ sơ phạm nhân dày cộm. Tiếng lật giấy sột soạt bỗng bị ngắt quãng bởi một giọng nói run rẩy, đầy vẻ khẩn cầu từ phía cổng:

Hành trình kinh hiểm

Hành trình kinh hiểm

Hai tên cướp vừa thu tiền vừa hỏi tên họ và đơn vị công tác của từng người đưa tiền sau đó ghi vào quyển sổ và nói: "Xin đắc tội với bà con cô bác, vì gần đây anh em chúng tôi gặp khó khăn nên mới phải mượn tạm số tiền này của bà con cô bác, đến ngày nào đó nhất định sẽ trả lại".

Bệnh cũ tái phát

Bệnh cũ tái phát

Chỉ đến lúc này ông Lý mới buông lão Trương ra. Nhưng ông Lý còn cố nói với lão Trương: “Hôm nay tôi để ông thắng vài ván, ngày mai tôi sẽ để ông không còn mảnh giáp nào”

Dưới ánh mặt trời

Dưới ánh mặt trời

Gần 20 năm sống ở cái đất "hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo" này, gã đã quá quen với việc một mình trong mọi thứ. Sinh tồn bản thân đã không dễ gì, dính thêm một sự sống khác thì khác gì đeo tròng vào cổ

Hai lần lên tỉnh

Hai lần lên tỉnh

Thấy ông già giàu có, mặt người bán hàng lập tức sáng lên và nhanh chóng viết hóa đơn. Sau khi trả tiền, lão Vương nhét chiếc máy ảnh kỹ thuật số vào chiếc ba lô bẩn thỉu của mình, bỏ 10 nhân dân tệ tiền thừa vào túi rồi ngẩng cao đầu bước ra khỏi trung tâm thương mại.

Tình yêu dị dạng

Tình yêu dị dạng

Khi đến lượt mình, Lâm Khê lén dúi vào tay anh mẩu giấy ghi số điện thoại. Thẩm Ngôn khựng lại, ngẩn người nhìn cô rồi lẳng lặng nhận lấy. Ngay tối hôm đó, cô nhận được cuộc gọi từ anh.

Biển rợp sóng

Biển rợp sóng

Tiếng gió biển thổi đem tiếng vi vu của vạt phi lao tới như một bản nhạc vừa buồn vừa rực rỡ, ngút ngàn cô đơn. Biển cũng chỉ có vậy thôi: đơn giản và nhạt nhòa. Nó giống như chàng trai lúng túng trước vạt tóc bay qua bờ vai phủ lên khuôn mặt đẫm nước mắt của cô gái mà chỉ biết thở dài thừa thãi.

“Trợ lý thông minh”

“Trợ lý thông minh”

Lý Minh hào hứng nghiên cứu cả buổi chiều, cài đặt hết các lệnh cần thiết, thậm chí còn lén cài thêm một lệnh “lời chào tùy chỉnh”. Anh ta tự tin nói: “Có nó, hiệu suất làm việc của văn phòng chắc chắn sẽ tăng gấp đôi”.

Còn lại cái gọng không

Còn lại cái gọng không

Vâng lời bác sĩ, tôi sắm ngay một chiếc kính. Nhưng khổ nỗi, cứ hễ đeo vào là đầu óc lại quay cuồng, buồn nôn không chịu nổi. Thậm chí có lần, nói ra thì hơi ngại, tôi đã nôn thốc nôn tháo đến mức mật xanh mật vàng đều ra hết.

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Đời này, kiếp này A Sính sẽ gắn bó với núi rừng. Nó thương những em nhỏ mỗi lần đi học phải dậy từ sớm, rồi đu qua sợi dây cáp sang bên kia suối, đi hết một quả đồi nữa mới đến điểm trường. Biết được nỗi nhọc nhằn đi tìm con chữ của dân bản, cấp trên đã cho xây dựng một lớp học ở lưng chừng đồi.

Người đàn ông bên bến sông trăng

Người đàn ông bên bến sông trăng

Ngoài sân, mấy tàu cau khô cọ vào nhau xào xạc. Thời gian của đêm trôi qua chậm và buồn quá. Lâu nay, khi có rượu vào là Lâm lại nhớ về quãng đời cũ của mình.

Khiêu vũ với cái chết

Khiêu vũ với cái chết

Người đàn ông kia có đôi mắt xám với hàng mi dày, mũi rộng và môi rất mỏng. Khi người phục vụ mang đồ uống đến, họ với lấy ly mà không rời mắt khỏi sàn nhảy.

Lời của Thượng đế

Lời của Thượng đế

“Trong thiên hạ không có cái gì là không lấy được, không có chỗ nào là không đột nhập được”.