Một chiều cuối mùa, tôi đứng trên bờ nhìn miếu nhỏ như cái chấm vàng đong đưa giữa hai cơn dòng, nghĩ, hóa ra cách người ta nhớ nhau cũng đơn giản. Giữ một ngọn đèn không tắt. Không phải để đuổi bóng tối, mà để nhắc mình từng có lỗi, từng có yêu, từng có một đêm gió quật, mình không kịp che tay cho ánh lửa nhỏ xíu kia. Từ đó, suốt đời, chỉ cần đi ngang, tự khắc mình châm thêm một chút dầu. Không phải cho đèn mà là cho mình, như một sự sám hối lỗi lầm.
*
Đêm tháng Bảy ở cù lao như cái lòng chảo úp ngược, hơi nước bốc mù từ hai nhánh sông ôm nhau giữa chừng rồi buông ra, để lại một thứ lạnh ẩm, lách trong lồng ngực. Mấy chiếc ghe chở hàng lần lượt rời rạch Gừa; đèn dầu treo đầu mũi lắc lư theo sóng. Đèn ở miền sông nước là mắt, là hơi thở, là cầu xin bình an. Đèn treo bằng một sợi dây kẽm nhỏ.
Ghe của vợ chồng Hải, Hồng chở bảy mươi bao gạo từ chợ huyện. Gạo mới, mùi cám thoang thoảng quyện dầu hôi phả lên như say. Hồng ngồi sau, tay giữ vô -lăng, đầu choàng khăn, con dao rọc bao gài nơi hông. Hải đứng trước mũi, lo cái đèn:
- Đêm nay gió nồm, chịu khó che kỹ nhen em!
Hồng ậm ừ, mắt ngước đếm những chấm sáng đang trôi tới trôi lui như đom đóm mặt nước.
Từ ngày cha mẹ để lại một dây nợ dai như đọt bần non, hai vợ chồng bung ghe chạy hàng, đi chuyến này gom chút lời chuyến khác bù lỗ. Hồng lanh tay, giỏi nói giá. Hải ít lời, chắc tay lái. Họ trẻ, cái tuổi còn tin rằng sóng dữ nào cũng chịu thua bàn tay mình nếu khéo nắm tay nhau.
Trước khi rời bến, ông Bảy Lẫm, chủ bến sông dúi chai dầu nhỏ:
- Đèn mày bữa nay nó yếu rồi đó, đổ thêm nghe con.
Hải cười:
- Dạ ông!
Hồng không nhìn, chỉ kéo khăn trùm sâu xuống tai cho bớt gió.
*
Ra khỏi rạch, sông mở ra như một cánh tay nâu ôm hết bóng đêm. Trăng chưa lên, trời nặng hơi. Ngọn đèn trước mũi ghe của Hải chập chờn, khói đen vẽ một vệt ngoằn như con cá lóc quẫy đuôi. Hải lấy tay che, vặn tim, ngọn lửa gom lại thành hạt lửa bằng hạt bắp.
- Được chưa? - Hồng hỏi.
- Tạm.
Hải đáp, mắt nhìn xa, chỗ rẽ ra sông chính có bóng một ghe trái cây đang tấp vào, đèn vàng sáng hơn đèn mình.
- Đáng lẽ mình phải thay dầu - Hồng nói, cổ họng khô như nuốt rơm. Hải vẫn im lặng.
Sông chính bắt đầu có sóng dội, những bụng nước đập vào hông ghe như những bàn tay mù mịt. Tiếng máy ghe phía trước rù rù, tiếng máy ghe đâu đó bên trái đáp lại bằng một nhịp khác. Giữa những âm thanh ấy, đột nhiên “phụt”, ngọn đèn của Hải tắt ngúm, mùi dầu cháy dở hắc vào mũi. Cả mũi ghe như bị móc mất con mắt. Hồng kêu khẽ:
- Hải!
Hải cúi nhào tới, quơ chai dầu, ngón tay dính nhớt làm chai trượt khỏi tay lăn vào mép mũi.
Một cơn gió quất ngang, hất mớ khói cuối cùng bay đi. Bóng ghe trái cây ở tài bên phải sẫm lại, khoảng cách rút ngắn nhanh như người ta nháy mắt. Hồng, trong khoảnh khắc hoảng loạn như bị ai bưng mặt, bẻ vô-lăng sang trái. Hải theo phản xạ hét:
- Đừng!
Nhưng tiếng hét của anh bị tiếng sóng nuốt chửng. Chỉ có một cái chớp của trăng ló sau mây, đủ để hai chiếc ghe nhìn thấy nhau muộn màng. Cú va đập dội vào sườn như nắm đá ném thẳng tim. Mũi ghe Hải ghim vào hông ghe trái cây, mấy chục trái thơm lăn xuống nước. Bên kia một người đàn ông đang đứng buộc dây văng ra khỏi boong. Hồng thấy rất rõ, đôi mắt người ấy mở lớn, phản chiếu đèn ghe của chính họ tắt ngúm.
Sau cú va, tiếng nước vỡ xòe như một cái màn lớn đứt dây. Có tiếng “ối!”, tiếng đàn bà, rồi tiếng đàn ông chửi thề. Hải lao qua mép ghe, định nhảy sang kéo người đứng kia, nhưng hông ghe trơn nhớt dầu, chân hụt, anh đập đầu vô cột buồm, đau điếng. Khi ngóc lên, đã thấy ghe bên kia nghiêng hẳn, một bóng người rơi xuống nước.
- Cứu!
Ai đó thét. Hồng cố nổ thêm ga cho ghe lùi, nhưng máy rú khàn, sóng dồn vào mũi, đẩy hai thân gỗ ma sát rít lên như răng nghiến.
*
Sau này, ông Bảy Lẫm kể rằng ông nghe tiếng kêu mà thấy sông nặng như một cái xác. Ông phóng chiếc xuồng con, đèn pin loang loáng. Khi ông tới, một người đã chìm. Mấy người khác bấu vào mạn ghe của Hải, mắt trắng dã.
- Đèn tụi bây đâu? - ông quát.
Hồng chỉ mũi ghe, môi run:
- Tắt… giữa đường.
Ông hất chai dầu, tay run run vặn tim đèn, lửa bắt chậm. Ông quay qua Hải:
- Mày quăng dây đi. Nhanh!
Hải run tay, quăng hụt hai lần.
Đêm đó mất một mạng người. Cậu trai bên ghe trái cây mới hai mươi, con ông Tư Lại, một bạn ghe lâu năm của ông Bảy. Xác cậu nổi lên lúc gần sáng, mắc vào một bụi bần, tóc rối vào rễ. Hồng thấy, ói tới mật vàng. Hoảng sợ đến thất thần.
Người vợ chủ ghe trái cây ngất khi thấy chiếc áo cậu trai phơi trên dây. Ông Tư Lại không nói, mắt nhìn Hải và Hồng như một con cá lớn nhìn đứa nhỏ dại, ánh mắt câm nín, nặng trĩu.
*
Công an đường thủy xuống ngay ngày hôm sau. Họ đo khoảng cách, chụp hình mũi ghe, lập biên bản.
- Vô ý gây chết người.
Người cán bộ đọc, giọng đều:
- Đêm đó đèn ghe của anh tắt, anh không kịp khắc phục, không phát tín hiệu. Anh Hải, mời anh theo chúng tôi.
Hải cúi đầu, mắt đỏ ngầu, tay tựa vào mũi ghe chỗ đèn vừa được vặn cho sáng trở lại. Ông Bảy vỗ vai:
- Tới đâu thì chịu tới đó, con à. Người chết rồi, người sống ráng gánh.
Hồng ngồi trên bậc cầu, hai vai sụp xuống như bị ai ấn. Dân cù lao lục đục kéo ra, lời xầm xì như cỏ lác:
- Đèn tắt giữa dòng là sát nghiệp đó nghen.
- Đáng lẽ con vợ phải coi đèn.
- Hồi nào tao nói rồi, chạy hàng đêm nguy hiểm.
Mấy đứa nhỏ tò mò thò đầu ra khỏi mái hiên, nhìn Hải bị còng tay, miệng nhóp nhép gom câu chuyện đem về nhà.
Ba ngày sau, người ta không thấy Hồng đâu nữa. Có đứa nói thấy cô ngồi trên chiếc xe khách về hướng thị trấn. Có người thề đã gặp cô đi bộ dọc bến, mặt trắng bệch như người mới sốt, tay ôm một cái túi nhỏ. Ông Bảy Lẫm mắng:
- Đừng nói xàm.
Nhưng tin đồn vốn chẳng cần chân vững vẫn chạy nhanh.
- Trốn nợ.
- Sợ mang tiếng.
- Bỏ chồng.
- Đi theo ghe khác.
Lời nào cũng như cọng bần lởm chởm, mắc vào đầu người nghe, làm ai cũng ngứa ngáy.
*
Vật chứng vụ án cái đèn mũi ghe bị thu giữ. Nhưng đến nửa tháng sau, người ta thấy nó treo ở miếu nhỏ giữa cù lao. Không ai biết ai đem ra, sợi dây cột là một sợi kẽm khác, mới tinh, vặn gọn gàng.
Ông Ba Nhiễu, người canh miếu kể:
- Bữa đó tui ra quét miếu, thấy cái đèn treo sẵn, có chút dầu trong bầu, tui tưởng con nít chơi. Tui thắp thử bắt liền.
Từ đó, đêm nào đi ngang cù lao cũng thấy ngọn đèn ấy cháy, dù đôi khi gió dữ thổi xiên. Có đêm, thấy đèn gần tàn, ghe ai ghé vào cũng châm cho đầy bầu dầu hôi, không cần ai bảo ai. Có người bỏ vô chén sành dưới đèn mấy tờ tiền lẻ, coi như cúng dông bão. Không ai dám tắt. Bọn trẻ có đứa bạo gan đưa tay chọc, bị bà già đứng kế bên đánh “chát”. Cái đèn đó không được đụng.
Miếu cù lao nhỏ thôi, vách gỗ mục nứt như rãnh cày, mái lá phủ rêu. Trước miếu là cụm bông súng trắng vươn khỏi mặt nước, ban ngày mở ngậm theo nắng mưa, ban đêm ngả đầu. Ông Ba Nhiễu ban ngày vá lưới, ban đêm ngủ vắt vẻo trên bộ ván trong miếu, nghe sóng rì rì như tiếng thở của mấy con cá mè. Ông kể:
- Có bữa khuya tui thức giấc, thấy có bóng người đàn bà đứng trước đèn, áo bà ba trắng, khoác cái khăn rằn cũ, tay che ngọn lửa khỏi gió. Tui chớp mắt cái, không thấy nữa. Chắc tui chiêm bao.
Nghe vậy, người ta “ừ” nhẹ như gió đi qua tai, nhưng đêm đó, ghe nào cũng đi chậm lại, khi tới khúc miếu, nhìn ngọn đèn xem nó có thật sự không tắt nổi không.
Ngày dông dữ. Nước lớn xô bờ, con rạch cạnh miếu đục lên thành màu bàng bạc, gió làm lá thốt nốt ở bờ xa quằn quại. Ông Ba Nhiễu kéo cửa miếu, chèn cây chống, ngồi ôm cái bầu đèn trong tay mà sợ. Ngọn đèn rung bần bật, hột lửa như ai thổi muốn tắt. Nước tạt vào, lửa lắc lư, khói đen bốc cao, mùi dầu hắc. Ông định đưa tay che thì thấy một bàn tay khác, mỏng dính, da trắng tái, đặt lên tay ông, chặn gió. Ông giật mình ngoái lại không thấy ai. Bên vách miếu lưu lại một vệt dầu hình bàn tay, bóng như cánh cá lia thia. Dông đi qua đèn không tắt.
Ông Bảy Lẫm lần đầu nhìn vệt tay đó, ông rùng mình. Ông nhớ cái đêm tai nạn, nhớ gương mặt trắng dã của Hồng khi nhìn xác cậu con trai nhà người khác nổi lên, nhớ tiếng Hải gào lên bị sông nuốt mất. Ông Bảy Lẫm ngồi xuống ghế mây, châm điếu thuốc, nói với đèn như nói với người:
- Thôi thì… mày cứ cháy vậy đi.
Tin về ngọn đèn lan khỏi cù lao. Mấy ghe hàng từ thượng nguồn chảy xuống dừng lại khấn qua khấn lại. Người ta tin: đèn này nhắc người đi sông đừng lơ là, nhắc người ở lại đừng quên người đi. Cũng có kẻ báng bổ chuyện có vậy mà mê tín. Nhưng những kẻ đó đêm về kể lại cho vợ nghe, giọng thấp xuống như sợ ai giận.
*
Mấy năm đầu người ta còn nghe tin Hồng. Có người bảo gặp cô bưng cà phê ở quán đầu chợ huyện, gầy rộc. Có kẻ nói thấy cô ngồi trên ghe chài đi ngang khúc ngã ba sông, tay thõng xuống nước như đang vuốt mặt sông. Ông Bảy một lần đi lên trạm xăng dầu, nghĩ thấy cô cúi rửa mâm trên bến xa, ông định gọi thì tiếng máy ghe khác nổ, mắt ông cay, bóng người đàn bà mờ như khói. Hải đi tù. Tin không mấy ai nhắc, trừ lúc mùa nước nổi về người ta hay thở dài bâng quơ:
- Không biết thằng nhỏ sao rồi - ông Tư già thêm, lưng còng xuống, mắt đỏ lên mỗi khi đi qua miếu. Ông không trách nữa, không tha cũng không chửi, chỉ đứng ở mép bến, nhìn sông chảy, tay lần lần mấy sợi dây lưới cũ mèm
- Sông nó vậy đó - ông nói. Mình đi, lỡ hụt hơi một chút, nó kéo.
Người nghe thì xót. Nhưng nghe riết thì thành quen. Chuyện sông nước xứ này, thiệt tình là trăm bề khó đỡ.
*
Năm thứ tám, Hải về. Anh về bằng một chiếc ghe mượn, thân ghe nhỏ như cái bóng. Anh ốm lại, da ngăm sẫm, mắt khô như gió chướng cuối mùa. Bến xóm vắng, lũ trẻ bây giờ biết nhiều thứ khác, nhìn anh lạ lẫm như nhìn người từ nước khác trôi sang. Ông Bảy Lẫm mừng mà không biết nói sao, chỉ đặt tay lên vai anh, vỗ một cái. Bàn tay già đè lên cái xương vai nhô nhọn, tiếng vỗ nghe như tiếng cá quẫy.
- Đèn còn đó hả ông? - Hải hỏi sau khi ngồi xuống, nhận chén nước trà đắng.
- Còn.
Ông Bảy trả lời, mắt nhìn theo khói trà nghiêng.
Tối đó, Hải chèo ghe ra cù lao. Miếu nhỏ rung nhẹ trong gió như người già run vì sốt. Ngọn đèn trước miếu cháy vàng êm, tim đèn cắt bằng vải cũ cháy đều, khói mỏng, không còn cái mùi chát vội vàng ngày xưa. Dưới chân đèn là cái chén sành ai đó đặt, trong chén có mấy tờ tiền lẻ ướt góc, một cái kẹp tóc nhựa bươm bướm đã quăn và một chiếc khăn rằn bạc màu cột gọn. Hải không chạm, tay anh run.
Ông Ba Nhiễu từ trong miếu bước ra, áo bà ba sẫm, tay cầm cái kim vá lưới:
- Về rồi đó hả con.
- Dạ - Hải đáp, cổ họng nghẹn như nuốt trái ổi còn hạt.
- Ngồi đi.
Ông nói:
- Đèn này… có khi người sống châm, có khi người chết châm. Tao không biết. Tao chỉ biết giữ cho nó đừng tắt.
Hải ngồi bệt trên bậc gỗ, nghe đèn kêu lách tách từng hột dầu nở. Anh nhìn vệt tay dầu trên vách miếu, cái vệt mờ mờ như ai đó vừa xòe tay ra rồi rút về. Anh nhớ bàn tay Hồng, bàn tay luôn ươn ướt mùi gạo mới, mùi nước sông, mùi dầu hôi. Anh muốn hỏi Hồng có về đây không. Anh chưa dám hỏi. Có những câu hỏi nói ra làm vỡ hết những gì còn lại.
- Con có đói không? - ông Ba hỏi.
- Dạ không.
Hải nói, nhưng bụng anh co lại như có người bóp. Ông đưa gói xôi bắp. Hải cầm, miệng cắn mà không nuốt nổi. Ngoài sông, tiếng mái chèo đơn độc rẽ nước đen. Một chiếc ghe nhỏ đi qua miếu, người lái ghe cúi đầu, mắt liếc đèn, môi mấp máy như nói “cảm ơn”.
Bữa đó, Hải nói, giọng anh như lạc giữa sương:
- Con quay cái tim đèn không kịp. Con thấy con trai ông Tư… con thấy mắt nó. Con thấy… cái bóng đèn tắt phản trong mắt nó.
Ông Ba im. Rồi ông thở dài một hơi dài như lùa cả cơn bấc vào ngực:
- Con biết đèn là cái gì không? Nó không chỉ là ánh sáng, nó còn là cái lời xin lỗi treo trước mặt người ta. Mình xin lỗi sông, xin lỗi nhau, xin lỗi cái xui rủi.
Ông nhìn sâu vào mắt Hải:
- Con ráng thắp đèn của con.
Hải gật, mắt vẫn nhìn ngọn lửa nhỏ.
*
Hải nhớ hồi đầu mới cưới, có hôm hai đứa kẹt tiền dầu, Hồng cười vỗ vai:
- Tiền thiếu chứ đèn đừng thiếu.
Mỗi lần nói câu ấy, Hồng hay thò tay bóp cái bầu đèn coi còn nặng không, như kiểm tra tim của chính mình.
Giữa đêm, gió bỗng bớt tay. Mặt sông phẳng hơn. Hải đứng dậy, với tay sờ bầu đèn, rút bình dầu nhỏ trong túi áo. Anh châm thêm một ít. Dầu tràn lên miệng, mùi hắc dậy. Tim đèn nuốt dầu, ngọn lửa tròn đầy hơn. Anh thả một câu nói khẽ, câu nói đẩy ra khỏi ngực như đẩy một chiếc ghe kẹt bùn:
- Cho chú xin lỗi cháu… Những năm qua chú ân hận xót xa lắm. Con xin lỗi dòng sông…. Anh xin lỗi em Hồng ơi.
Lúc Hải nói, ông Ba không nghe rõ, nhưng sông nghe.
Hải quay ghe. Đêm lùi ra sau, con đường nước mở thành một dải mỏng. Ghe anh đi chậm, như sợ đánh thức ai. Khi ghe khuất, ngọn đèn ở miếu vẫn cháy, bóng vàng nhảy nhót trong mắt nước như con cá bống nghịch ngợm. Trên vách gỗ, vệt tay dầu đen mới ướt thêm một chút.
Từ đó, người đi sông ngang miếu thêm thói quen cúi đầu, rờ cái bầu đèn của mình coi còn dầu không. Nếu đèn gần tàn, họ châm thêm. Có người để sẵn một chai nhỏ, miệng lầm rầm câu cũ: Cảm ơn.
*
Có năm, lũ về lớn, miếu ngập tới nửa vách, đèn treo cao hơn một chút nhưng vẫn cháy, vệt khói đen in lên mái như một vệt chữ ai viết nửa chừng. Người ta cãi nhau về chuyện có nên dời miếu lên bờ, ông Ba nói:
- Ở đâu thì đèn cũng phải cháy. Nhưng nó ở đây mới đúng chỗ.
Người khác ừ, thêm câu:
- Miếu giữa sông, đèn cho người đi sông.
Còn Hồng? Có người quả quyết đã thấy cô hai lần ghé miếu, một lần bưng một lon dầu nhỏ, một lần đặt xuống chén sành cái kẹp tóc bươm bướm. Nhưng đó là lời của một ông say. Có người nói cô đã lên Bình Dương làm công nhân, cưới một người lái xe tải, đẻ con gái tóc dày. Có người bảo cô chết đuối đâu đó phía thượng nguồn, thi thể không tìm ra. Ở miền sông nước, tin về một người đàn bà đi khỏi thường giống như con nước, tới rồi rút, đọng chút phù sa trong trí nhớ người nghe.
Hải ít nói hơn nữa. Anh làm thuê, chèo ghe chở rơm, vài bữa chở gạch, vài bữa bốc dỡ phân. Đêm nào đi ngang cù lao anh cũng tấp vô, ngồi dưới đèn một lát. Không ai hỏi, anh cũng không kể. Đèn không hỏi anh đi đâu về đâu. Đèn chỉ cháy.
*
Con nước mùa hạ bắt đầu kéo ròng. Tôi nghe tiếng lục bình cạ mạn ghe sột soạt Ở giữa cù lao, ngọn đèn trước miếu vàng như lòng đỏ trứng gà, ánh chập chờn, nhưng không tắt. Người ta đi ngang, cúi đầu. Không ai dám thổi. Không ai dám nói câu gì làm nó tắt. Vì ai cũng sợ tắt một ngọn đèn, là không chỉ tắt một luồng sáng. Nó còn tắt một lời xin lỗi treo lơ lửng của một đời người. Và những lời xin lỗi ấy, đôi khi, chính là thứ ánh sáng cuối cùng dẫn ghe mình khỏi những cú va giữa dòng.