Bật thêm đèn chiếu sáng, Hằng mời khách bằng tiếng Anh:
- Xin chào, mời ông bà vào xem tranh!
Hai người khách mỉm cười, gật đầu, nhìn cô gái trẻ tỏ ra thân thiện bằng câu trả lời song ngữ:
- Hello, thank you! Xin chào, cảm ơn!
Xem hết tầng một, họ lên tầng hai ngó nghiêng nhìn ngắm rồi xì xồ trao đổi về màu sắc và giá cả của những bức tranh. Ồn ã, cười nói vui vẻ, họ quay xuống tầng một. Chưa hết cầu thang, ánh mắt người đàn ông bỗng khựng lại lúc lướt nhìn vào xưởng họa cuối tầng một. Ông ta hấp tấp tiến lại, chăm chăm nhìn bức tranh khổ lớn vẽ dở đặt trên giá. Ông ta vẫy Hằng lại, chỉ tay vào bức tranh, hỏi:
- Cô ơi, bức tranh kia... là thế nào?
Hằng biết bức tranh ấy, ông chủ đã vẽ từ lâu nhưng tới giờ không hiểu lí do gì, nó vẫn chưa được hoàn thiện. Nhìn gương mặt người khách có vẻ hồi hộp, bất giác Hằng hỏi lại:
- Thưa ông... ông muốn hỏi gì?
- Thưa cô, bức tranh này có bán không? Giá bao nhiêu?
Nghe hỏi, Hằng thấy lạ. Trên tường treo bao nhiêu tranh đã vẽ xong chỉn chu, đẹp đẽ, khách không hỏi mua, lại chọn đúng bức tranh mới phác hình, màu chưa bôi kín. Có chỗ còn lộ toan trắng. Một bức vẽ cảnh hoang tàn đổ nát, ẩn trong đó là chết chóc rình rập. Không chờ cô nhân viên trả lời, vị khách bồi hồi hết lại gần, rồi lùi xa. Ngắm nghía, ngón tay run run chấm nhẹ vào tranh.
- Thưa cô, cho phép tôi được chụp ảnh bức tranh này nhé!
- Thưa ông, đây mới là phác thảo. Xin lỗi, tôi chỉ được quyền bán tranh đang trưng bày. Mong ông thông cảm, không chụp ảnh bức tranh này nếu không được sự đồng ý của họa sĩ.
Người khách nhìn cô nhân viên bán hàng với ánh mắt tôn trọng.
- Họa sĩ tên gì? Cô cho tôi gặp được không?
- Thưa ông, người họa sĩ tên Quang, Lê Quang. Có tranh trong nhiều bộ sưu tập trong và nước ngoài, trong Viện Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia. Nhiều tranh của ông ấy bị “nhái”, sao chép. Chỉ có ở đây, tại đây, ông mới mua được tranh thật của họa sĩ. Nhưng, thật tiếc, hiện giờ họa sĩ không ở nhà.
Vừa nghe Hằng giới thiệu, người khách ngó nghiêng hết sang phải lại sang trái, vòng cả ra mặt sau của bức tranh như tìm kiếm cái gì. Ông vẫy gọi người phụ nữ cùng đi, chỉ trỏ, có lúc đứng im trầm ngâm, miệng lẩm bẩm như đọc kinh thánh. Sự xúc động lây sang người phụ nữ. Nhìn Hằng, ngập ngừng mãi bà mới run run lên tiếng:
- Thưa cô, chúng tôi là vợ chồng, đều quốc tịch Mỹ. Mỗi năm chúng tôi đến đất nước này ít nhất một lần. Chồng tôi là William, rất ấn tượng và muốn mua bức tranh này, giá nào cũng được.
Ngừng một lát như để thăm dò, người phụ nữ tiếp lời:
- Cô cố gắng cho chúng tôi được gặp để trao đổi với ông họa sĩ nhé.
Hằng đã bán tranh ở đây hơn một năm, từ ngày cô tốt nghiệp Khoa Anh văn, Trường Ngoại ngữ. Bác Quang - bạn của bố, cho cô bán tranh để vừa trải nghiệm vừa có thu nhập. Hằng biết ở ta bán được một bức tranh không đơn giản. Nhiều người mua chỉ coi tranh như một món đồ... để mặc cả, bớt xén. Vậy mà bức tranh còn dang dở này của họa sĩ Lê Quang có cái gì đó, có ý nghĩa đặc biệt nào đó mà ông bà người Mỹ này muốn mua, muốn sở hữu cho kỳ được. Thấy Hằng không nói gì, người đàn ông đến bên Hằng, đôi mắt dò hỏi, cử chỉ ngập ngừng như cần sự giúp đỡ:
- Thưa cô, cho tôi xin số phone của ông họa sĩ nhé!
- Cảm phiền ông, để tôi liên hệ với họa sĩ trước đã.
Nói rồi, Hằng ra phòng ngoài gọi điện, mặt vẫn hướng vào xưởng vẽ. Người khách vẫn dán mắt vào bức tranh, lặng đi vì xúc động. Người phụ nữ đi cùng thi thoảng liếc nhìn Hằng, vẻ sốt ruột.
Hằng lấy card visit của mình đưa cho khách.
- Xin lỗi, họa sĩ không nghe máy, không biết khi nào mới về. Ông bà cứ để lại số phone. Nếu họa sĩ đồng ý gặp, tôi sẽ gọi.
Bác Lê Quang hơn bố Hằng cả chục tuổi. Bác là họa sĩ đa tài, tính cách mạnh mẽ, quyết liệt trong nghệ thuật tạo hình. Ông ăn mặc gọn gàng, chải chuốt. Giày dép hàng hiệu.
Ông là người khó tính, ngay chính với mình, bảo thủ, không chấp nhận sự áp đặt dù là nhỏ nhất. Tính cách kiêu bạc, khinh khi, ngang tàng. Ông thường ngủ ngày, vẽ đêm. Khi vẽ, ông cần sự yên tĩnh tuyệt đối để tư duy và trải lòng mình. Ông như người lên đồng lúc vẽ, không ăn uống, vẽ trong đói rét tù túng, vẽ trong đơn độc để hành xác mình. Bức tranh này bác vẽ đã hai năm nay mà vẫn chưa xong...
Mấy ngày sau, mười phút sau cuộc gọi của Hằng, khách đã có mặt tại phòng tranh, chứng tỏ ông ta ở rất gần đây và chờ đợi cuộc gặp này. Người đàn ông ngoại quốc to cao, phong độ nhanh nhẹn vào phòng, đứng dưới chân cầu thang cúi chào trịnh trọng rồi chăm chú quan sát người họa sĩ già như tìm kiếm vết nhận dạng trên khuôn mặt già nua, nhàu nát. Ánh mắt người đàn ông ngoại quốc có gì đó vừa mừng rỡ vừa hoang mang. Ông ta ngập ngừng.
- Ông họa sĩ... xin... cho tôi mua bức tranh trong kia.
- Thưa ông, tranh tôi vẽ chưa xong. Đây là bức tôi vẽ cho riêng tôi. Một kỷ niệm... Tôi không bán.
- Bức tranh về một trận chiến... có nghĩa... ông là một người lính?
- Đất nước tôi, thế hệ chúng tôi ai cũng là người lính.
Họa sĩ nói, giọng xúc động. Trong khi Hằng dịch cho vợ chồng William nghe thì họa sĩ làm động tác ôm súng trước ngực, tạo dáng đứng minh họa cho người lính trong tranh. "Hơn 50 năm trước, tôi - họa sĩ chỉ vào người lính trong tranh, gương mặt đầy tự hào - khi đó 20 tuổi, trẻ trung, nhiệt huyết, ước mơ, hoài bão...”.
Gương mặt người đàn ông Mỹ đờ ra khi nhìn hình ảnh người lính Bắc Việt ôm súng trong tư thế xung phong. Đối diện là người lính Mỹ to cao, áo rằn ri, đang quỳ, chắp tay xin tha mạng, ngước đôi mắt ứa lệ nhìn trời rực cháy màu cam.
- Tại sao ông lại muốn mua bức tranh về chiến tranh này?
- Tôi cũng là một quân nhân, đến đây, trong chiến tranh Việt Nam. Ngày 7/9/1972, tôi bị bắt làm tù binh và được một người lính Việt Nam tha ở Orphan Peak mà các ông gọi là đỉnh Mồ Côi...
Một luồng điện chạy dọc cơ thể, họa sĩ Lê Quang bừng tỉnh, nhìn người khách ngoại quốc từ đầu đến chân, ngó kỹ vào khuôn mặt béo tốt hồng hào.
Hơn năm mươi năm trước, Lê Quang đang học dở năm thứ tư Trường Mỹ thuật, lên đường nhập ngũ và trở thành một chiến sĩ trinh sát quả cảm. Trong một lần đụng độ và giao chiến đã bắt sống được một biệt kích Mỹ. Lúc cùng một chiến sĩ giao liên giải tên tù binh Mỹ về cứ để khai thác tin tức, người giao liên vấp phải mìn lá. Chỉ còn mình Lê Quang và tên Mỹ to cao trên đường đi.
Vết thương ở bắp chân và cơn sốt rét ác tính bất ngờ ập đến. Tình huống vừa nan giải, vừa nguy hiểm. Bắt tên Mỹ dừng lại, Lê Quang tựa mình vào một gốc cây bị pháo phạt đứt ngọn. Cơn sốt rét ác tính sẽ quật ngã mình mất và tên Mỹ sẽ... Ý nghĩ lướt nhanh trong đầu về tình huống xấu có thể xảy ra. "Nó sẽ chạy thoát hoặc chờ mình gục xuống, cướp súng và hạ mình bằng một viên đạn... Phải giết nó, nếu không mình sẽ chết vì nó...”.
Nâng khẩu AK lên, qua thước ngắm, tên Mỹ lúc mờ lúc tỏ chỉ cách Lê Quang chưa đầy mười mét. Tên tù binh ngồi chếch trên một tảng đá, quay lại, hắn đổ sụp xuống khi thấy họng súng AK lạnh buốt đang ngắm vào mình.
Vào giây phút Lê Quang chuẩn bị bóp cò, anh bỗng phát hiện trên tay tên lính cầm một bức ảnh từ lúc nào. Bức ảnh người phụ nữ trẻ với đôi mắt xanh lơ, tóc hoe vàng, trên tay là đứa trẻ đang nhoẻn miệng cười. Tên lính cầm bức ảnh vái như tế sao. Trong chập chờn cơn sốt, anh thấy trước mặt mình không chỉ tên lính Mỹ mà cả người phụ nữ và đứa trẻ kia cũng đang quỳ cầu xin tha mạng.
Ngón tay nơi cò súng run run rồi rời ra. Đầu súng tự nhiên chúc xuống. Cánh tay mềm nhũn, Lê Quang thở hắt ra. Rời ngón tay khỏi cò súng để tên Mỹ biết mình sẽ không bắn, anh vẫy tên tù binh lại. Cởi trói cho hắn xong, anh phất tay ra hiệu cho hắn trốn đi.
Vẻ mặt hắn chuyển từ kinh hoàng sang mừng rỡ rồi hoang mang, run rẩy sợ hãi. Khuỵu chân mấy lần, hắn mới đứng dậy được và bỏ chạy...
Hai vợ chồng người đàn ông ngoại quốc đã xích gần lại chỗ họa sĩ Lê Quang từ bao giờ. Bất giác, họ quỳ sụp xuống vái một vái rồi nắm lấy cánh tay ông. Lê Quang vội đỡ hai người dậy. Mắt cả ba đỏ hoe. Lê Quang chỉ vào người phụ nữ ngập ngừng:
- Bà... đây là...
- Vâng, tôi là người phụ nữ trẻ trong bức ảnh của người lính Mỹ năm xưa và trong tấm ảnh trên tay người lính Mỹ trên bức tranh ông đang vẽ dở kia...
Họa sĩ trầm ngâm, kí ức như một cuốn phim chầm chậm tua lại trong đầu. Cả hai im lặng. Bất chợt, Lê Quang quay qua người khách ngoại quốc:
- Thế còn chiếc áo khoác lính Mỹ...
Người đàn ông ngoại quốc khẽ giật mình như thoát khỏi kí ức, cười ngượng nghịu:
- Cái áo nào? À, hôm ấy, sau khi được ông tha, tôi chạy một hồi, thế nào lại quay về đúng chỗ cũ, thấy ông đang trong cơn sốt rét, run cầm cập, tôi cởi chiếc áo khoác đang mặc, khoác lên người ông...
- Còn tôi, sau đó được đồng đội tìm thấy và đưa về trạm phẫu...
Tên tù binh ấy trốn được bảy ngày thì bị bắt lại khi đã lả đi vì đói khát giữa rừng già. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, William được trao trả cho phía Mỹ.
Về nước, ông tích cực phản đối Mỹ can thiệp, tài trợ cho chiến tranh Việt Nam. Sau khi Mỹ - Việt bình thường hóa quan hệ, là một doanh nhân, tuy còn bận việc quản lý, điều hành, song năm nào William cũng dành thời gian sang thăm và tìm ân nhân - người lính trẻ Bắc Việt đã tha mạng, phóng thích cho mình.
- Ông William. Thế cái nốt ruồi nhận dạng đâu rồi?
- Vâng. Tôi đi tìm tôi, đi tìm quá khứ, đi tìm ân nhân suốt mấy chục năm qua, cái nốt ruồi son đón lệ, tôi đã tẩy đi để quên cái quá khứ hãi hùng của chiến tranh.
Ông ta lùi lại ngắm nhìn bức tranh, đột ngột hỏi người họa sĩ:
- Thưa ông, ngày ấy tôi mới chạy được một đoạn ngắn, có ba tiếng súng của ông đuổi phía sau. Có phải ông ân hận đã thả tôi không?
Nghe William hỏi, người họa sĩ trầm ngâm, đôi mắt xa xăm, đượm buồn, lặng đi. Ông lướt nhanh trên khuôn mặt William đang chờ đợi câu trả lời:
- Ba phát súng ấy ông còn nhớ à?
- Thưa ông, tôi không thể quên được. Nó ám ảnh tôi suốt một đời làm người. Bởi, mới trước đó một phút, với tôi, ông là chúa trời. Nhưng rồi...
William ngừng nói để thở vì bị kích động. Vợ ông ta vội đến bên, nói nhỏ vào tai ông ta điều gì đó. Khi đã bình tĩnh lại, đôi mắt dịu đi, mặt cúi xuống, ông ta hướng ánh mắt về phía họa sĩ Lê Quang:
- Đây là điều tôi thắc mắc, tôi không sao lý giải được. Gần cả đời này tôi không tự trả lời được. Tôi đi tìm ân nhân gần nửa thế kỷ để gặp và hỏi ân nhân về ba phát súng ấy.
Nói rồi William ngừng lại nhìn Lê Quang, bỗng ông ta bật ra thành tiếng: "Tằng... tằng... tằng...". Âm thanh vọng vào không trung, Lê Quang nghe lẫn trong đó có tiếng của gió, của mưa, xào xạc lá rừng, tiếng đập loạn của cánh chim và tiếng đổ vỡ của lòng tin...
- Thưa ông, cũng là người lính mà không hiểu được thông điệp của ba phát súng ấy?
William nghệt ra, ngước cặp mắt chờ họa sĩ giải thích.
- Ba phát súng liền nhau đó, là tín hiệu tôi báo cho đồng đội cần sự giúp đỡ. Thứ hai, tôi buộc ông phải chạy nhanh hơn để mau trốn thoát và tự bảo vệ mình, đồng thời cảnh báo ông đừng dại dột quay lại sát hại tôi.
Tôi nói thật, nếu ông gặp đại đội trưởng trinh sát của tôi, người bị máy bay Mỹ ném bom sát hại mẹ già, vợ và đứa con mới tám tháng tuổi tại hậu phương, cách đó mới hai tháng thì không biết thế nào. William rùng mình, tai ù đi, ông ta quỳ xuống làm dấu thánh, hai giọt nước chắt ra ở khóe mắt từ từ chảy xuống trên gương mặt đầy xúc động. Cuộc hội ngộ của hai người lính trên hai chiến tuyến đã lùi xa hơn nửa thế kỷ như có sự sắp đặt của định mệnh. Họ cùng nhau nói về cuộc chiến, trao đổi về bức tranh.
Tuy mới phác thảo, nhưng được họa sĩ nghiên cứu, tính toán kỹ về bố cục. Chính diện tranh, điểm vàng tạo hình hai người lính của hai phía được tác giả chọn lựa kỹ từ dáng thế, động tác để lột tả. Hình ảnh cận cảnh người lính trẻ Bắc Việt, gương mặt sạm đen hốc hác, đôi môi mím chặt trong cơn sốt, ôm súng tư thế xung phong.
Đối diện phía bên kia, người lính Mỹ chắp hai tay trước ngực với tấm hình người phụ nữ ôm con ngóng chồng trở về từ một cuộc chiến phi nghĩa, ngước ánh mắt nhòe lệ, thành kính hướng lên cao xanh. Làm nền cho hình ảnh đối lập, trái ngược ấy được chia ô, ứng với cung quãng của người nghệ sĩ đã trải qua.
Hình ảnh khốc liệt của cuộc chiến là sự hoang tàn, đổ nát của làng quê Bắc bộ, những hố bom, những người mẹ, người chị vừa sản xuất vừa chiến đấu. Những gương mặt tương phản sáng tối của bà bên nôi. Những đứa trẻ trong địa đạo, hầm trú ẩn. Những khu rừng nham nhở cháy... Gam màu nóng, không gian đồng hiện, khí thế sục sôi, tung phá.
Hôm sau, vợ chồng William lại đến. Họa sĩ Lê Quang mời và dẫn họ lên tầng ba. Đang uống cà phê, họa sĩ đứng lên mở tủ lấy ra một hộp đạn đại liên Mỹ màu xanh rêu. Ông lấy chìa mở chiếc khóa tự tạo trước con mắt hồi hộp của vợ chồng William. Đẩy hộp đạn về phía khách, họa sĩ xúc động nói:
- William, ông mở ra đi!
William nhìn vợ, tay run run tưởng như trong hộp đạn chứa chất nổ. Nắp được mở ra. Bên trong là chiếc áo cũ ngả màu vàng, mùi băng phiến sực nức tỏa ra gian phòng.
- Ôi! Chiếc áo khoác... của tôi!
William thốt lên, ôm lấy rồi áp lên ngực, ông ta nhẹ nhàng lật chiếc áo trên ghế sofa, nước mắt ứa ra khi sờ vào phù hiệu đơn vị, lá cờ Mỹ... Lê Quang sau hai ngày cấp cứu, cơn sốt rét đã đỡ thì lại gặp phải một rắc rối khác. Chính chiếc áo tố giác Lê Quang đã thả tên tù binh Mỹ trước người chỉ huy. Cũng may, cuộc chiến vào hồi quyết liệt, trong một trận chiến sau đó, Lê Quang bị thương, phải đưa về tuyến sau nên không bị truy cứu.
William đề nghị họa sĩ hoàn thiện bức tranh, ngoài chữ ký, có lưu bút đề tặng bằng tiếng Việt. Bức tranh hoàn thiện được treo trang trọng ở phòng khách, nơi đón tiếp các chính khách, thương gia đến thăm, ký kết hợp đồng với Tập đoàn công nghệ - điện tử R do William làm chủ tịch cùng chiếc áo khoác mà họa sĩ đã trả lại cho ông đặt trong chiếc hộp gỗ sơn son thiếp vàng - sản phẩm văn hóa độc đáo của làng nghề truyền thống Việt. Chiến tranh đã lùi xa, hận thù cần cởi bỏ.
Bạn đọc, ai muốn biết nhiều hơn về câu chuyện này, hãy đến số 357 BolSteava, thủ đô Washington của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.