Đầu tháng 11, nước Sông Hồng bắt đầu rút dần, nhưng dòng chảy mang đầy phù sa vẫn cuồn cuộn kéo nhau đổ về từ thượng nguồn. Cầu Long Biên vẫn ở đó hơn một thế kỷ, chứng kiến dòng sông chưa bao giờ ngơi nghỉ. Kha vẫn vậy, vẫn rong ruổi qua những đô thị ồn ào, những làng quê heo hút hay cả chốn thâm sơn cùng cốc để tìm cảm hứng cho đam mê của mình. Có lẽ, hạnh phúc của một người nghệ sĩ chỉ giản đơn là biết mình phải đi đâu và theo đuổi cái gì. Những khung cảnh u buồn, những nét xưa hoài niệm và cả cuộc sống của người lao động nghèo đã trở thành đề tài trong 20 năm theo đuổi hội họa của anh.
Xế chiều, khi hoàng hôn đang buông chậm rãi, những tàn nắng nhẹ nhàng tỏa xuống dòng sông một màu vàng nhạt. Vệt nắng len lỏi xuyên qua từng kẽ hở của cây cầu rồi trộn lẫn với màu nâu sẫm rỉ sét của kết cấu thép cũ kỹ tạo thành một sắc màu vô cùng mờ ảo. Đứng từ phía bên kia nhìn vào trung tâm thành phố, chi chít các tòa nhà nhấp nhô từng nhịp như một biểu đồ hình sin biên độ thấp. Len lỏi dưới đó là một xóm trọ của những lao động nghèo. Họ đã ở đây từ rất lâu và tồn tại cùng với chợ đầu mối Long Biên gần đấy, cũng là hạt nhân quan trọng để song hành với nhịp sống của người Hà Nội.
Kha ngồi tựa mình trên ghế gấp, lặng lẽ ngắm nhìn hoàng hôn tuyệt đẹp. Anh thẫn thờ như một kẻ mộng mơ, đắm chìm trong nó. Anh đang phiền muộn hay lo âu, đang hạnh phúc hay phấn khởi, chẳng ai biết được. Bỗng anh nhớ tới bức tranh anh vẽ, màu đã khô tự bao giờ. Anh đứng dậy, thu xếp hết tất cả đồ nghề của mình vào chiếc túi da tím nhạt, chuẩn bị ra về. Xung quanh Kha, một cánh đồng bạt ngàn hoa cúc đang mùa nở rộ, còn phía sau là những con người trong xóm bờ sông vẫn đang miệt mài lao động, để lo toan cho cuộc sống thường nhật.
Từ đâu đó trong xóm, tiếng một người đàn bà thét lên đau đớn xé ngang buổi chiều tĩnh lặng. Kha khựng lại, rồi vội bước về phía phát ra âm thanh. Trước mắt anh có một người đàn bà đang bồng một đứa trẻ, chừng khoảng hai tuổi. Con bé khóc lặng, mặt đỏ bừng rồi dần tím tái. Kha thoáng nhìn rồi bước đến, hạ giọng: “Cô bình tĩnh. Đừng hét nữa, nó đang sợ đấy”. Người đàn bà quay lại. Nom chỉ ngoài 30 tuổi nhưng khuôn mặt đã hằn đầy nếp nhăn; nắng gió ven sông khiến da cô chuyển màu nâu sẫm. Thân hình cô gầy gò, hai vai nhô lên dưới chiếc áo hoa đã bạc màu trông thấy. Cánh tay hiện rõ những đường gân xanh, trông vô cùng gai góc. Mái tóc rối được buộc vội sau gáy, vài sợi tóc bết mồ hôi dính lên gò má gầy. Đôi mắt thì đỏ hoe, hình như cô vừa khóc. Cô nhìn Kha với ánh mắt dè dặt, không nói một lời nào. Đứa bé vẫn nấc lên từng cơn, đứng khoảng cách ba mét vẫn nghe rõ mồn một. Lòng trắc ẩn trong Kha chợt dâng lên. Anh khẽ nói: “Để tôi bế nó coi sao.”. Người phụ nữ ngập ngừng giây lát rồi khẽ gật đầu. Cô cẩn thận chuyền sang tay anh. Kha ôm đứa trẻ vào lòng rồi vỗ lưng nhẹ nhàng. Thật bất ngờ, chỉ một lúc sau đứa bé nín hẳn, rồi dần dần đi vào giấc ngủ.
Người đàn bà nhìn con rồi ngước lên, trước mắt là một người đàn ông khoảng 40 tuổi, mang dáng vẻ của một nghệ sĩ lang bạt và bụi bặm. Mái tóc để dài, buộc đuôi ngựa trên đỉnh đầu. Khuôn mặt hốc hác nép sau bộ râu phủ kín cằm khiến anh già hơn nhiều so với tuổi; thân hình mảnh khảnh, quần kaki cũ và cái áo phông đã úa màu. Đâu đó trên cánh tay còn vương vài chấm sơn dầu trong lúc vẽ. Có lẽ vẻ bề ngoài đó của anh không làm cô sợ, mà hiện lên sự đồng điệu đến lạ kỳ.
Khi thấy con say giấc, cô giơ tay xin lại, anh liền nói: “Giường ở đâu, đưa qua đưa lại nó thức giấc”. Cô chỉ tay vào phía trong nhà. Kha bước vào, anh tỏ ra sửng sốt. Nơi ngủ trông vô cùng đơn sơ. Hai tấm cửa cũ được kê trên bốn cái chân được xây bằng gạch. Trải lên đó là một tấm chăn mỏng đã cũ, chỉ khâu có dấu hiệu bung ra, đôi đoạn thì xen nhau từng mũi khâu chệch choạc, chỉ trắng chồng chéo lên chỉ đen. Dù vậy, đứa bé vẫn nằm đó ngủ ngon lành. Con cái có chê cha mẹ nghèo khó bao giờ?
Căn nhà rộng độ 10 mét vuông, bên ngoài nhìn vào lụp xụp, hiu quạnh; bốn bức tường được quây bằng mái tôn xen vào những tấm gỗ mục, phía trong phủ bạt để giảm bớt đi cái nóng. Mái nhà chắp vá loang lổ từng lớp fibro xi măng đã cũ. Ở góc nhà ngay cửa ra vào đặt một bàn thờ nhỏ với tấm di ảnh của một bà cụ, cùng một bát hương còn vài chân nhang đang cháy dở. Trông cảnh đó, Kha không khỏi thương cảm. Nói rồi, Kha chào tạm biệt và trở về nhà.
Kha bước lên con dốc, thu dọn đồ đạc ra về. Trước lúc đi, anh ngoái đầu nhìn lại căn nhà nhỏ một lần nữa. Trời lúc này đã nhá nhem tối, cầu Long Biên càng trở nên xinh đẹp, hai dòng người ngược chiều lướt qua nhau trông vô cùng huyền ảo. Anh cũng hòa mình trong dòng người tấp nập đó, trở về căn phòng ở khu tập thể cũ - nơi anh sinh ra và lớn lên. Anh ngồi một mình trong căn phòng lấp đầy tranh vẽ ấy, bút màu cùng giấy vứt bừa bãi khắp nơi, ngoại trừ chiếc bàn đặt ở đầu giường. Ở đó có một lọ hoa tươi, cùng nhiều khung ảnh anh chụp cùng gia đình. Anh ngắm nhìn rất lâu vợ con và hồi tưởng…
“My, xin em hãy đợi anh, anh đang trên đường về”. Dòng tin nhắn Kha gửi cách đây 10 năm mãi mãi không có ai trả lời. Chiều hôm ấy, My đón con gái của hai người sau giờ tan học. Khi đang sang đường, một chiếc xe máy phóng với tốc độ kinh hoàng lao thẳng vào hai mẹ con. Con gái anh ra đi trên đường đến bệnh viện, còn My được người dân đưa vào cấp cứu trong tình trạng vô cùng nguy kịch.
Trong lúc vợ con đang giành giật sự sống, Kha vẫn mải mê giữa núi đồi Tây Bắc để hoàn thành những bức tranh của mình. Đến khi nhận được tin, anh vội vã trở về nhưng đã quá muộn rồi. Anh không kịp gặp lại con, cũng không còn được nắm tay vợ thêm một lần nào nữa. Điều đó làm anh đắm chìm trong hội họa để chạy trốn khỏi hiện thực nghiệt ngã của cuộc đời mình trong suốt 10 năm qua.
Anh mở ba lô lấy cuốn nhật ký để ghi lại những sự việc hôm nay theo thói quen thì mới sực nhớ bỏ quên nó trong căn nhà cũ bên sông. Nhưng lúc này ngoài trời đang mưa rất to, tiếng mưa rơi lộp bộp kèm sấm chớp đùng đoàng ngoài cửa sổ, anh đành chịu. Sáng hôm sau, mưa tạnh, anh vội vàng quay lại chân cầu, nhưng căn phòng đã khóa trái cửa. Kha đứng chờ một lúc lâu, từ nhà bên cạnh, một cụ ông bước ra hỏi: “Cậu tìm ai?”. Kha trả lời: “Cụ có biết hai mẹ con nhà này đi đâu không?”. “Con Lam hả, tối qua mưa to, con nó ốm, sáng sớm nay đi viện rồi”. “Cụ biết lúc nào họ về không, cháu để quên đồ trong đấy”. “Cứ ngồi đây uống nước đi đã”.
Nói rồi ông cụ lấy ra một ấm trà, đặt lên chõng tre trước nhà. Chén trà vừa mới rót còn nghi ngút khói, phảng phất mùi thơm nhè nhẹ. Đã lâu lắm rồi Kha mới có cơ hội thưởng thức hương vị đó. Anh nhấc chén trà lên, khẽ đưa vào môi nhấm nháp, rồi tò mò hỏi: “Cô ta không chồng hả cụ?”. “Chồng đâu ra. Bố mẹ nó trước đây gánh hàng thuê trong chợ, người Sơn La, Hà Giang gì đấy, nhưng bỏ đi từ lúc nó còn bé, rồi lại được bà Xuân bán rong trong nội thành nhận nuôi, nhưng cụ cũng mới mất rồi”.
Vừa dứt câu, ông uống vội một hớp rồi kể tiếp: “Nó cũng là dân gánh hàng thuê, chửa hoang với thằng trời đánh nào ở chợ, cũng đếch ai quan tâm”. Nghe xong chuyện, Kha ngậm ngùi, anh hướng mắt về phía căn phòng nhỏ hỏi tiếp: “Cụ biết số điện thoại cô ấy không?”. “Không có số, nhưng cậu thử vào bệnh viện Đ.G tìm xem”. Uống cạn chén nước trên tay, Kha đứng dậy, chạy xe vào thẳng trong bệnh viện. Anh tìm tới khoa nhi, đúng lúc Lam vừa khám bệnh cho con xong, chuẩn bị làm thủ tục nhập viện. Thấy anh tiến lại, cô khẽ ngạc nhiên: “Sao anh lại ở đây?”. Kha mỉm cười: “Tôi quên cuốn nhật ký ở nhà cô. Sáng nay quay lại lấy thì mới biết con bé vào viện”. Lam gật đầu: “Tôi cất cẩn thận rồi, chắc ít hôm nữa tôi mới về nhà”. Đúng lúc ấy, một nữ điều dưỡng bước vào và hỏi: “Ai là Lam?”. “Dạ... em”. “Chị mang giấy khai sinh với thẻ bảo hiểm y tế của cháu xuống tầng 1 để làm thủ tục nhập viện, đi luôn đi”. Lam cúi mặt, tỏ ra lo lắng: “Dạ, nhưng bé chưa có giấy khai sinh chị ạ”. Người điều dưỡng thoáng khựng lại: “Thế còn giấy chứng sinh đâu?”. Lam lắc đầu: “Cũng không luôn”.
Căn phòng bỗng lặng đi. Kha nhìn vẻ mặt bối rối của Lam, trong lòng dấy lên một cảm giác khó tả. Anh bước tới, nhỏ giọng hỏi người điều dưỡng vài câu rồi lặng lẽ đi ra hành lang. Ít phút sau, anh gọi điện cho một người bạn đang công tác tại bệnh viện. Sau khi được hướng dẫn và xác nhận lại một số thủ tục, con gái của Lam cũng được tiếp nhận điều trị theo diện dịch vụ trong lúc chờ hoàn thiện hồ sơ. Mọi khoản viện phí đều phải tự chi trả. Đến khi mọi việc tạm ổn, Lam mới thở phào, đôi mắt đỏ hoe nói lời cảm ơn Kha. Anh vội xua tay: “Không có gì đâu”. Bác sĩ kết luận con bé bị viêm phổi do nhiễm lạnh. Cũng may mắn được đưa đến viện kịp thời nên chưa ảnh hưởng quá nghiêm trọng. Nghe vậy, Lam mới bớt lo đi phần nào.
Những ngày sau đó, sau mỗi lần đi vẽ về, Kha lại ghé vào viện thăm mẹ con Lam. Tới ngày thứ hai liên tiếp, cô thắc mắc hỏi anh: “Anh cứ yên tâm, tôi không lấy cuốn nhật ký đâu, một tuần sau anh tới rồi tôi trả lại”. Sợ cô hiểu lầm, Kha thanh minh: “Gần đây tôi đang vẽ tập tranh ở sông Hồng, tiện đường nên tôi ghé thăm con bé thôi”. Những ngày sau, hôm thì Kha cầm theo vài dây sữa, lúc thì ít hoa quả mua vội ngoài cổng bệnh viện. Lam nhiều lần từ chối, nhưng Kha chỉ cười, khiến cô cũng cười theo anh. Có lẽ đã rất lâu rồi cô mới cười tự nhiên đến thế. Đến ngay cả con cô cũng vậy, con bé dần quen với người đàn ông này. Mỗi lần thấy Kha vào thăm, con bé lại lon ton chìa hai tay đòi bế. Nó thích sờ vào chòm râu trên cằm của anh. Có lần Lam nhìn cảnh ấy, cô khẽ nói: “Anh bế trẻ con khéo thật”. Đôi mắt Kha chùng xuống, không trả lời cô.
Buổi chiều cuối cùng trước ngày xuất viện, Kha vào thăm thì thấy cô đang bối rối ở quầy thanh toán. Anh hỏi: “Cô cần giúp gì không?”. “Tôi thiếu mất hơn một triệu tiền viện, nếu có thì giúp tôi, tháng sau tôi gửi lại”. Không cần suy nghĩ, anh rút tiền ra đưa cô, còn dúi vào tay cô thêm hai triệu rồi trấn an: “Đang khó khăn, cô cứ cầm đi, sau đi làm trả lại tôi cũng được”. Kha đưa cô về nhà rồi lấy lại cuốn nhật ký. Lúc anh nổ máy xe định chạy đi thì Lam lí nhí hỏi: “Anh đặt tên cho con bé được không? Tôi định ngày mai ra Ủy ban phường làm giấy khai sinh cho nó”. Kha hơi chau mày. Suy nghĩ một lúc, anh nhẹ nhàng: “Cô thấy tên Giang thế nào? Giang có nghĩa là sông, cũng là nơi nó được sinh ra”. Cô nhìn anh phấn khích, còn con bé chạy lại níu lấy chân Kha khiến anh không nỡ rời đi.
Biết Lam đang khó khăn nhiều bề, Kha gợi ý: “Tôi sẽ vẽ ở đây khoảng ba tháng, cô nấu cơm cho tôi, tôi sẽ trả lương cho mẹ con cô đủ sống trong giai đoạn này”. Lam xúc động, nhìn anh, mắt đỏ hoe rồi gật đầu.
Cứ mỗi tối, lúc con ngủ, Lam thường đưa con ra chợ, gửi nhờ vào mấy ki-ốt của chủ rồi bốc hàng. Công việc hằng ngày của cô bắt đầu từ 10 giờ đêm tới gần sáng. Mỗi ngày, hàng chục chuyến xe tải chở rau, củ, quả vào ra liên hồi. Đội cửu vạn ở đó tụ tập thành từng nhóm khoảng ba tới bốn người cùng nhau dỡ hàng khỏi xe, trong đó có cả Lam. Sau đó lại xếp các thùng ấy vào các xe kéo để chuyển tới những tiểu thương nhỏ hơn trong toàn thành phố. Ở đây cô làm không bao giờ hết việc, nhưng cũng vô cùng vất vả. Mà hầu hết họ đều là phụ nữ nên thường truyền tai nhau một câu thơ để động viên lẫn nhau rằng:
“Nữ nhi cửu vạn đêm dài
Vác khiêng hùng hục, sụn vai vẹo người”.
Trước khi gặp Kha, ngoài làm cửu vạn, ban ngày cô cũng tranh thủ đi nhặt ve chai quanh vùng để kiếm thêm thu nhập. Nhưng dạo này, cô chỉ làm đêm, ban ngày cô tranh thủ nấu ăn cho Kha, rồi đôi lúc làm mẫu cho Kha vẽ, cũng như giới thiệu cho anh những con người và công việc ở nơi này.
Những ngày sau đó trôi qua bình yên như mặt nước sông Hồng vào cuối thu. Sáng nào Kha cũng mang giá vẽ ra bãi bồi. Có hôm anh ngồi dưới chân cầu, có hôm lại men theo bờ sông vẽ quang cảnh, cuộc sống của dân vùng này. Trên những bức tranh dần hiện lên cây cầu cũ, những mái nhà lụp xụp, cuộc sống của người dân ven sông…
Một chiều, Kha đưa cho cô xem bức tranh mà mình vừa mới hoàn thành. Trong tranh là người phụ nữ trẻ ngồi trước hiên nhà, còn đứa bé thì ngủ ngoan trong lòng người mẹ, phía sau là Cầu Long Biên với dáng vẻ u buồn, hiu quạnh. Lam nhìn nó rất lâu rồi mỉm cười lộ vẻ e thẹn: “Em xấu thế mà cũng được vào tranh sao?”. Kha lắc đầu, cười nói: “Không. Ở ngoài cô đẹp hơn trong tranh nhiều”.
Lam bật cười, hai má ửng hồng. Đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, có người nói với cô điều đó.
Một chiều, đang vẽ, anh sơ ý làm đổ hết cả lọ sơn dầu lên người nên muốn quay lại phòng của Lam rửa ráy. Anh vừa bước vào cửa thì Lam cũng từ phía sau tấm rèm nhà tắm bước ra. Mái tóc còn ướt, vài giọt nước men theo tóc rơi xuống bờ vai gầy. Cô mặc chiếc sơ mi cũ, mấy chiếc cúc áo còn chưa kịp cài, hai bầu ngực đầy sữa của cô hiện ra căng tròn. Thấy Kha đứng sững trước cửa, Lam giật mình, hai má đỏ hây hây. Kha cũng vậy, anh bừng tỉnh, trong người tự nhiên hừng hực một hơi nóng là lạ. Ngọn lửa tình trong anh đã quá lâu rồi chưa được nhóm lại. Ánh mắt anh tia thẳng vào hai bầu vú thây lẩy của cô, rồi rùng mình. Cô vội quay người, kéo chiếc khăn tắm che trước ngực, lí nhí: “Sao hôm nay anh về sớm thế?”. Kha cũng lúng túng quay mặt đi, đưa tay gãi nhẹ sau gáy. “Xin lỗi, tôi bị sơn đổ lên người”.
Trong căn phòng nhỏ bỗng im bặt, gió ngoài trời vẫn xì xào từng cơn nhỏ. Mấy cây trứng cá trước dãy trọ vẫn đứng đấy lặng ngắt theo gió. Thật khó có thể biết họ đang nghĩ gì, một người đàn ông cô đơn, một người đàn bà đang khát khao hơi ấm của một gia đình đúng nghĩa. Nếu họ có vồ vập vào nhau theo bản năng của con người thì đâu có gì lạ. Bỗng Giang réo lên, cười khúc khích, xé tan sự ngại ngùng của hai người. Một lát sau, Lam bước ra với chiếc áo đã mặc chỉnh tề, đặt mâm cơm lên bàn, khẽ cười: “Anh ngồi xuống ăn cơm đi rồi mà về nghỉ ngơi cho sớm, cho con ngủ xong tôi còn phải đi làm”. Kha gật đầu, nhìn cô với một ánh mắt trìu mến đến lạ lùng làm cô tỏ ra thẹn thùng. Ăn xong, Kha giúp Lam dọn mâm cơm. Cô giành lấy chiếc bát trên tay anh: “Anh cứ để đó, giúp tôi trông con bé là được rồi”. “Tôi ăn cơm cô nấu mấy tháng nay, còn nề hà gì nữa”.
Lam khựng lại, rồi cúi đầu mỉm cười. Câu nói vô tình ấy khiến cô vui như mở hội. Giang sau một hồi chạy nhảy cũng bắt đầu dụi mắt, ngáp lên ngáp xuống. Kha nhìn Giang rồi bế con bé lên và cất tiếng hát khe khẽ:
“À ơi hoa bay lên trời, cây chi ở lại,
À ơi hoa cải lên trời, rau răm ở lại, chịu đời đắng cay”.
Lam rửa bát trong nhà tắm nghe tiếng Kha hát, cô mỉm cười. Lát sau, Giang ngủ, Kha ra trước nhà, đứng tựa vào xe máy, chéo chân lại. Anh lấy một điếu thuốc, nhưng chỉ cầm trên tay chứ chưa châm lửa. Trước mặt anh, sông Hồng lấp loáng những ánh đèn từ cây cầu dọi xuống. Phía trên, xe cộ vẫn chậm rãi lăn bánh qua cầu Long Biên, phát ra những âm thanh quen thuộc giữa màn đêm. Lam bước ra, nhìn về phía anh rồi khẽ hỏi: “Anh đang nhớ vợ con à”. “Ý cô là gì?”. “Đêm hôm ấy, mưa to, không ngủ được nên tôi đã lỡ đọc hết cuốn nhật ký của anh. Tôi xin lỗi”. “Không sao, chuyện ấy thì có gì to tát chứ”. “Tôi cũng nghe người ta kể về chuyện của cô mà, khi những người bất hạnh gặp nhau thì đồng cảm, có sao đâu”.
Nói rồi Lam tiếp: “Họ kể gì về tôi?”. Kha quay mặt lại kể câu chuyện ông cụ kể cho Lam nghe. Cô cười khẩy: “Anh tin họ sao. Tôi mồ côi từ lúc còn nhỏ, bố mẹ đã xin tôi về nuôi, tôi cũng không biết họ đã sống hay đã chết trong một lần cứu người ở bờ sông bên kia, rồi tôi lại được bà Xuân nuôi lớn”. Vừa dứt câu, Lam lặng lại, lấy tay chạm vào một chút cảm xúc còn vương trên mắt. Kha giơ tay nắm nhẹ tay cô. Cô nắm tay anh bỏ ra nhẹ nhàng rồi nói: “Anh không ngại thì đêm nay cứ ở đây mà ngủ, nhà tôi có võng đấy, bây giờ tôi phải đi làm rồi”. Cô đi được vài bước thì quay lại 180 độ rồi hỏi anh: “Trưa mai anh muốn ăn gì, để lát tôi lấy đồ tươi, với lại trưa mai tôi sẽ trả nợ nhá”. Kha cười: “Ba chỉ rang cháy cạnh đi”. Cô quay lại, đi thẳng về phía chợ rồi hét to: “Ờ”. Kha đứng đó dõi theo cô từng bước cho đến lúc khuất hẳn sau mấy căn nhà…
Sáng hôm sau Kha thức dậy khi mặt trời còn chưa xuất hiện. Anh mang giá vẽ ra phía bờ sông như mọi ngày. Trên bức tranh trước mặt chỉ còn vài nét cọ cuối cùng sẽ hoàn thành bức tranh về một gia đình. Trong tranh, một người đàn bà đang ngồi nhìn về phía một người đàn ông đang thả diều cùng một đứa bé ở ven sông Hồng. Kha đứng ra xa, ngắm nghía rồi mỉm cười. Anh thầm nghĩ, trưa nay mang bức tranh về cho Lam xem. Có lẽ cô sẽ vui lắm! Đúng lúc ấy, từ phía xóm trọ vọng xuống tiếng hét thất thanh. Ban đầu chỉ là vài người chạy vội. Rồi thêm vài chiếc xe máy phóng như bay về phía chợ Long Biên. Tiếng còi xe cứu thương bất ngờ xé toạc buổi sớm yên bình.
Ông cụ bán nước gần nhà Lam đóng cửa, chuẩn bị đi về phía chợ. Kha gọi lại: “Có chuyện gì vậy cụ?”. Ông cụ hớt hải mang một giọng gấp gáp: “Nghe nói trong chợ có người bị hàng hóa đè lên”. Kha cũng chỉ nghĩ đến một vụ tai nạn lao động như bao lần khác. Nhưng chẳng hiểu sao, trong lòng anh bỗng dấy lên một nỗi bất an lạ kỳ. Anh xếp vội cọ và màu vào túi, rồi lấy xe máy phóng thật nhanh về phía chợ. Con đường từ bãi sông lên chợ vốn không dài, vậy mà hôm nay anh thấy như kéo mãi không hết.
Từ xa, đám đông đã đứng kín một góc chợ. Tiếng bàn tán, tiếng khóc, tiếng gọi nhau vang lên hỗn loạn. Kha cố len vào đám đông. Một chiếc xe cứu thương vừa đóng cửa. Trên nền đất còn vương vãi bắp cải dập nát, vài sọt cam lăn tứ tung. Một người đàn bà ngồi bệt xuống giữa chợ, quần áo còn dính đầy máu đỏ, hai tay ôm mặt khóc nức nở: “Tội con Lam quá!”. Kha chết lặng, anh nghe rõ từng chữ như có ai cầm búa gõ thẳng vào ngực mình: “Lam nào?”. Người phụ nữ ngẩng lên, đôi mắt đỏ hoe: “Lam ở xóm ven dưới chân cầu... lúc bốc hàng, cả sọt hoa quả đổ lên người nó… E rằng nó không qua khỏi”. Bà bỏ lửng câu nói, chỉ biết đưa tay lau nước mắt. Tai Kha ù đi. Chiếc túi trên vai rơi xuống đất lúc nào anh cũng không hay. Giữa khoảng chợ đông nghịt người, anh đứng bất động. Chỉ còn vang lên trong đầu anh lời hẹn tối qua. Kha không biết mình đã đứng đó bao lâu. Chiếc xe cứu thương đã lăn bánh từ rất lâu. Chợ Long Biên vẫn không ngừng hoạt động. Những chuyến xe mới lại nối đuôi nhau vào bãi. Tiếng mặc cả, tiếng quát tháo vẫn vang lên như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Cuộc sống mưu sinh chưa bao giờ dừng lại chỉ vì số phận của một con người.
Kha chợt nhận ra Giang vẫn còn ngủ trong nhà, anh quay lại để xem con bé thế nào. Kha thắt lòng vì lo cho Lam. Anh muốn chạy ngay vào bệnh viện tìm Lam xem tình trạng của cô ra sao. Nhưng anh không thể bỏ bé Giang ở nhà một mình, anh ra phía chợ, gửi nó cho mấy người bán hàng là bạn của cô rồi đi vào bệnh viện.
Tai Kha ù đặc, hai chân như muốn khuỵu xuống, nhưng cuối cùng anh cũng đến được bệnh viện. Đến bệnh viện, mọi thủ tục được bạn bốc hàng ở chợ giải quyết gần như đã xong. Người Lam được phủ kín bởi những dây nhợ lằng nhằng trong phòng hồi sức tích cực. Thấy anh đến, các bạn hàng nhìn anh buồn bã lắc đầu, mắt hoe đỏ. Kha đứng cách đó vài bước. Anh không dám bước tới. Mười năm trước, anh cũng từng đứng như thế trước phòng cấp cứu. Mười năm sau, cảnh tượng ấy lại lặp lại. Chỉ khác rằng, người nằm đó không phải vợ anh, mà chỉ là một người phụ nữ vừa mới bước vào cuộc đời anh chưa đầy ba tháng. Người y tá nhẹ nhàng hỏi: “Anh là người nhà của chị ấy à?”. Kha lặng đi một lúc rồi khẽ lắc đầu: “Không”. Anh ngập ngừng: “Tôi là bạn". Chữ "bạn" vừa thốt ra, chính anh cũng thấy nghẹn.
Người y tá nhìn anh giọng buồn buồn. Chị ấy chỉ có bạn, không có người nhà, anh có thể giúp chị ấy ký vào phần người nhà trong hồ sơ mổ của chị ấy được không. Chị ấy vừa trải qua ca phẫu thuật rất nặng. Thật khổ cho chị ấy, các bạn bè đến rồi vội vã về đi làm, chị ấy chỉ có một mình…
Kha lặng đi, tai anh lùng bùng không còn nghe rõ được điều gì nữa. Một lúc sau như chợt nhớ ra, anh vội ngước lên nói với cô y tá: “Chị yên tâm, để tôi ký, tôi sẽ ở đây chờ cô ấy tỉnh lại. Tôi sẽ là người nhà duy nhất của cô ấy lúc này”.
Mưa lại bắt đầu rơi. Kha nhớ về những lời nói đêm qua của Lam. Anh nhớ về ngày đầu tiên hai người gặp nhau, những ngày vất vả ở bệnh viện, những hương vị trong món ăn của Lam nấu cho anh. Rồi anh lại nhớ về bức tranh anh đang vẽ dang dở. Anh không biết từ ngày mai anh phải làm gì. Mới đêm qua, bé Giang luẩn quẩn bên chân anh đòi anh bế, rồi ôm chặt anh. Anh như vẫn còn cảm giác con bé nức nở, run rẩy nép vào ngực anh vì nhớ mẹ đi làm cả đêm chưa về. Anh nghe từ xa tiếng thì thầm trong gió tựa như lời nói lí nhí của Lam lúc ở quầy bệnh viện cảm ơn anh…
Chợt có tiếng gọi vút lên, vỡ òa những âm thanh trong trẻo của cô y tá:
- Anh gì... bạn… à người nhà của bệnh nhân ơi. Cô ấy tỉnh rồi đấy. Thật là một phép nhiệm màu kỳ diệu đã đến với cô ấy. Chúc mừng anh. Cô ấy đã tỉnh rồi.
Mắt Kha mờ lệ, đất dưới chân anh như trôi đi trong một cơn sóng.