Đi ta đi. Ta đứng ngang trời
Vào những năm đầu thập niên 70, tôi mon men tới ngôi nhà số 4 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội) gặp nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh gửi bài. Đó là những ngày quân dân thủ đô chiến đấu chống trả quyết liệt không quân Mỹ ném bom và bắn phá miền Bắc. Mỗi câu thơ đều gắn với khói bom đạn lửa chiến đấu chống quân xâm lược. Năm 1972, hay tin đội ngũ nhà văn quân đội về sơ tán tại quê nội tôi, xã Hương Ngải, Thạch Thất (Sơn Tây cũ).
Trong dịp này, lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Vũ Cao với niềm vui thân thương. Tôi khoe về di sản văn hóa Quán Nghinh và tích chèo Lưu Bình Dương Lễ được viết chuyện của làng Hương Ngải. Ông cười sảng khoái và lấy làm thích thú khi thấy tôi hổn hển trong niềm vui. Trong thời gian đó, chúng tôi ở lại làm việc và trực chiến tại Hà Nội. Trong lòng tôi luôn thấy vui vì những nhà văn nổi tiếng ngày đó như Thanh Tịnh, Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Ngô Thảo, Từ Bích Hoàng… cùng Vũ Cao đang ở quê mình. Mãi tới vài năm sau, tôi mới được in bài thơ đầu tiên trên tạp chí với khuôn chữ vuông vức trang trọng. Bài thơ “Những que hàn của thương binh hỏng mắt”. Cũng từ đó, những câu thơ trong bài “Núi Đôi” hay “Đèo Trúc” của Vũ Cao luôn ám ảnh tôi. Phải nói đó cũng là những bài học về thơ ca cách mạng mang sắc màu sử thi trữ tình.
Lần thứ hai, chúng tôi được gặp nhà thơ Vũ Cao nhân dịp ông trao đổi nghiệp vụ sáng tác tại “Lớp bồi dưỡng viết văn trẻ” trên Quảng Bá (Khóa 7 - năm 1974/1975). Chúng tôi háo hức nghe tiếng cười của ông, xen kẽ những câu chuyện trên đường kháng chiến và chiến dịch biên giới (1950). Ngày ấy, Vũ Cao là phóng viên báo Vệ Quốc Quân (tiền thân của báo Quân đội Nhân dân), dưới sự chỉ đạo của Thư ký tòa soạn, nhà thơ Thâm Tâm. Chúng tôi nghe trực tiếp nhà thơ Vũ Cao đọc những sáng tác như “Ngang dốc núi”, “Đèo Trúc”, “Tiếng chuông” hay “Thiên nhiên” đều thấy hơi thơ hiện đại với nhịp điệu bay bổng của Thâm Tâm và Quang Dũng nhập thần.
Giọng đọc thơ của Vũ Cao say sưa, âm vang với nội lực dạt dào. Chúng tôi hòa lẫn trong cảm xúc bao la: “Đèo vẫn dốc, đi ta đi, thẳng tới/ Tay vịn vào tay trúc ta lên/ Có mùi thơm như mùi cúc mùi sen/ Hương trúc đây/ thơm như hồn đất nước/ Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước” (Đèo trúc). Nhịp thơ dồn dập, cách điệu phá bỏ nhịp cổ phong quen thuộc được thể hiện qua những thi phẩm: “Sớm nay”, “Và một người con gái”, “Ghi trên đường đi”; hay đó còn là hồn thơ da diết đầy cách điệu tự do với “Con đường nhỏ này”, “Tiếng chuông”, “Buổi sớm”. Thật thú vị, nhịp thơ sôi động được nhà thơ thể hiện giàu tâm cảm ngay với thể thơ lục bát quen thuộc. Không gian khói lửa cuộc chiến được nhà thơ phả hơi thở của tiếng cười lạc quan sáng láng. Ông viết: “Mấy hôm đá xẻ chân người/ Ai đem cơm nắm tới đồi Khâu Luông/ Dốc dài quang gánh chon von/ Chàm xanh mái tóc, mình thon áo chàm” (Tiếng hát).
Nhớ nhau, anh gọi em, đồng chí
Hai ngọn Núi Đôi ngày nay trở thành miền du lịch khá phát triển bên những khu công nghiệp cùng phố phường nhộn nhịp. Nhưng trên cao gió vẫn thổi dìu dặt câu chuyện tình yêu bi tráng của người nữ chiến sĩ Trần Thị Bắc vào một ngày xuân năm 1954. Cô gái tuổi 17 bị giặc Pháp phục kích khi dẫn đường cho các chiến sĩ vào vùng địch hậu tác chiến. Người nữ chiến sĩ hy sinh để lại nỗi tiếc thương cho đồng đội và người yêu đang chiến đấu ngoài mặt trận. Nhà thơ Vũ Cao đã xúc động viết bài thơ dài với câu chuyện được hóa thân đầy ẩn ức. Những giọt nước mắt nhà thơ đã rơi trên nấm mộ cỏ xanh.
Câu chuyện được kể như một bi tình sử pha dáng dấp tráng ca lộng lẫy. Bài thơ gần với trường ca mang phong cách kể chuyện của một nhà báo tài hoa. Ông kể nhưng ẩn chứa nỗi lòng buồn thương với nhịp điệu từng khổ thơ mang âm hình giao hưởng tình ca. Đó là những trạng huống tâm lý của người chiến sĩ trở về quê khi biết tin: “Mới đến đầu ao tin sét đánh/ Giặc giết em rồi, dưới gốc thông/ Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa/ Em sống trung thành, chết thủy chung”.
Bi kịch tình thơ được tác giả nhập thân dẫn dắt từng lớp lang khép mở những âm giai hòa tấu. Cái chết lẫm liệt bi tráng của cô du kích dâng trào: “Ai viết tên em thành liệt sĩ/ Bên những hàng bia trắng giữa đồng/ Nhớ nhau, anh gọi em, đồng chí/ Một tấm lòng trong vạn tấm lòng”. Nhưng tình yêu vẫn là mối lương duyên đắm đuối với hồn thiêng nuối tiếc: “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông bờ cũ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em!”.
Đây là bài thơ đạt được kỷ lục khi có hàng vạn người ghi chép sổ tay và học thuộc (nhất là khi tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa). Hình ảnh người nữ liệt sĩ trẻ trung và xinh đẹp gây xúc động sâu sắc trong lòng người qua những câu thơ bi tráng. Nhịp thơ không ủy mị đẫm lệ nhưng đã làm hàng triệu người rơi nước mắt. Hồn thơ dâng cao bay bổng rạo rực tình yêu đã để lại biểu hình tượng trưng: “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”.
“Núi Đôi” trong chùm thơ tình khá lạ của Vũ Cao. Người đọc ghi nhận nhà thơ Vũ Cao có sự đổi mới về dòng tự sự quen thuộc trong thơ. Những bài thơ tình của ông thường có sự phát hiện qua những chi tiết thú vị, gây ấn tượng với bạn đọc. Đó là những bài thơ: “Chuyện dân gian”, “Con đường nhỏ này”, “Sao sáng”, “Cảm thông”… Ắt hẳn, người đọc sẽ thấy bất ngờ với tứ thơ “Con đường nhỏ này”, khi tác giả viết: “Con đường nhỏ này dẫn tới nhà em/ Nhiều bận anh đi chỉ đi một nửa/ Còn nửa ấy, anh dành cho nỗi nhớ”. Rồi tác giả bày tỏ một cách náo nức rằng: “Buổi đấy đến thăm em/ Hai hàng cây gió quá/ Ôi được thấy em/ mà vui từ ngọn lá/ Một ánh mắt thân tình/ đâu đó/ tự ngây thơ”. Rồi không giấu nỗi lòng bối rối khi đứng gần bên em với “Nhìn tóc em gió thổi” mà vội vã dừng chân. Do đó tứ thơ được khép lại với nhịp con tim đứt quãng bồi hồi: “Nhiều bận anh đi/ chỉ đi một nửa/ Còn nửa ấy/ anh dành cho/ nỗi nhớ” (Con đường nhỏ này).
Ta lớn lên với dòng sông, tuổi thơ ở đấy
Đi kèm với hàng trăm bài phóng sự, truyện ngắn, nhà thơ Vũ Cao luôn có những ghi chép thơ trên đường ra mặt trận. Đi tới đâu, nhà thơ cũng nhớ tới đồng làng, con sông quê hương (Vụ Bản, Nam Định, Ninh Bình) và người mẹ thân thương. Nhà thơ luôn đau đáu nỗi niềm: “Đi chiến đấu, đôi lần nghe gió dậy/ Ta lại nghĩ tiếng gió sông vọng tự đôi bờ/ Như tiếng mẹ giục giã bước chân con/ không biết tự bao giờ” (Ghi trên đường). Tiếng quê hương, tiếng đất nước vang dội với ý chí quyết tử: “Đời cha mẹ tăm tối/ Nên ta quyết làm người” (Ghi trên đường).
Đồng thời, tiếng còi tàu quê nhà luôn réo rắt ngân rung trong tâm cảm: “Tôi theo bầu bạn lên đường/ Nắm tay rằng sẽ lớn khôn thành người/ Có lần quay lại phố Gôi/ Chào hàng cây với bóng đồi để đi/ Mấy đàn chim sẻ chim ri/ Tiễn chân tôi/ đã bay về/ lại lên” (Còi tàu). Hình ảnh nhớ nhung, lưu luyến trong tâm hồn thi nhân luôn làm xao động lòng người.
Từ năm 1957, nhà thơ Vũ Cao làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Mười năm sau, ông làm Phó chủ nhiệm; rồi Chủ nhiệm (Tổng biên tập) Tạp chí, với quân hàm Đại tá (1980). Ông đã xuất bản 5 tập thơ, 6 tập văn xuôi và vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (2001). Bài thơ “Núi Đôi” gắn bó với tên con đường lớn, trung tâm thị trấn Sóc Sơn. Nhà thơ còn vang danh với ngạn ngữ: “Ngọn Núi Đôi kia còn. Tên tuổi Vũ Cao còn”. Hay nhà thơ Xuân Sách từng tạc chân dung ông rằng: “Sáng ra nhấp một chén trà/ Núi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi”.