Năm 2025, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, NXB Kim Đồng đã giới thiệu đến bạn đọc những cuốn sách về chân dung các nhà lãnh đạo, nhà cách mạng tiền bối như: "Người thợ máy Tôn Đức Thắng", "Trần Phú", "Ngô Gia Tự", "Nguyễn Đức Cảnh", "Nguyễn Thị Minh Khai - Khúc hát vườn trầu", "Nguyễn Hữu Tiến - người vẽ cờ Tổ quốc", "Cây đào Tô Hiệu"… Trong số đó, sự trở lại của tác phẩm "Nguyễn Hữu Tiến - Người vẽ cờ Tổ quốc" của nhà văn Sơn Tùng đã cung cấp cho độc giả hôm nay những thông tin quý giá, bổ ích về liệt sĩ - nhà cách mạng tiền khởi nghĩa Nguyễn Hữu Tiến - người đã cống hiến trọn đời mình cho non sông đất nước. Trước đó, tác phẩm từng được NXB Thanh Niên xuất bản vào năm 1981 với tên gọi "Nguyễn Hữu Tiến" và được cố nhạc sĩ, họa sĩ Văn Cao vẽ bìa.
Liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến sinh ngày 5/3/1901 tại làng Lũng Xuyên xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố Lũng Xuyên, phường Đồng Văn, tỉnh Ninh Bình). Ngay từ khi còn nhỏ, chứng kiến những cảnh đời cơ cực, bất công của xã hội đương thời, chàng thanh niên Nguyễn Hữu Tiến đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia vào các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Từ thầy giáo làng, ông bước vào con đường hoạt động cách mạng và là một trong những người tham gia thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Hà Nam. Hoạt động được một thời gian thì cơ sở bị lộ, ông bị địch bắt và kết án tù khổ sai, bị đày đi Côn Đảo.
Theo tìm hiểu của phóng viên, trong quá trình đi tìm kiếm, chắp nối các tài liệu để viết cuốn truyện ký "Nguyễn Hữu Tiến - Người vẽ cờ Tổ quốc", nhà văn Sơn Tùng đã tiếp cận được với một tài liệu rất có giá trị và tài liệu này đã được in vào phụ lục cuốn sách. Đó là công văn số 1685-S ngày 2/8/1940 của Chánh Mật thám Đông Dương P.Aknauk gửi các quan chức cao cấp như Thống đốc Nam Kỳ, Tổng thanh tra Liêm phóng Đông Dương, các chánh mật thám Hà Nội, Huế, Phnom Pênh (Campuchia), Viêng Chăn (Lào)… về việc bắt giữ Nguyễn Thị Minh Khai và các tin tức liên quan đến"người đi cùng" là Nguyễn Hữu Tiến (tức Giáo Hoài, tức Trương Xuân Chinh).
Theo tài liệu này: "Tối ngày 30/7/1940 (tức ngày 26/6 năm Canh Thìn), các nhân viên Đề lại rình đã thấy Nguyễn Thị Minh Khai đi cùng một người nữa lại gần túp nhà tranh đó. Hai người đó đều bị bắt sau một cuộc đuổi bắt vất vả, và phải đối phó gay go với một người đàn ông (người đi cùng Nguyễn Thị Minh Khai).
Dẫn về Sở Mật thám, người đó đã chực cắn lưỡi tự tử. Sau khi tra xét lại lý lịch thì biết rằng đó là người tù khổ sai Trương Xuân Chinh (tức Nguyễn Hữu Tiến, tức Giáo Hoài) bị tòa Thượng thẩm Hà Nội xử ngày 6/6/1932 kết án 20 năm khổ sai, 20 năm quản thúc về "Mưu đồ xúi dân chúng đứng dậy chống nhà chức trách". Hắn tham gia việc cải tổ Đảng Cộng sản Đông Dương, hắn vượt ngục ở Côn Đảo hồi tháng Giêng năm 1935, bị bắt, thì đến tháng Tư sau hắn lại vượt ngục lần nữa…".
Lần thứ 2 vượt ngục Côn Đảo, Nguyễn Hữu Tiến cùng 6 đồng chí khác trốn thoát, trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng. Ông tham gia Xứ ủy Nam Kỳ và được giao phụ trách công tác tuyên huấn. Theo tư liệu được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm, ghi lại trong cuốn "Nguyễn Hữu Tiến - Người vẽ cờ Tổ quốc", trước ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940), người chiến sĩ Nguyễn Hữu Tiến đã nung nấu ý định vẽ lá cờ nhằm tuyên truyền cho cuộc khởi nghĩa. Một lá cờ đỏ, đính ngôi sao vàng năm cánh ở giữa đã ra đời với lời giải thích ý nghĩa được thể hiện qua một bài thơ do chính ông sáng tác. Bài thơ được ông Năm Thái - một lão thành cách mạng từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ - cung cấp cho nhà văn Sơn Tùng:
"Việt Nam ta con Hồng cháu Lạc
Dòng máu đỏ, giống da vàng, trải bốn ngàn năm oanh liệt.
Thế mà chịu tám mươi năm rên xiết
Dưới giày đinh đế quốc sài lang!
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng lên mau! Hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sĩ, nông, công, thương, binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh
Đoàn kết lại sức mình sẽ mạnh
Quyết đánh tan phát xít Nhật - Tây
Hỡi hai lăm triệu con yêu nước Việt Nam này
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh...".
Theo lời kể của nhà văn Sơn Tùng trong cuốn sách, sau đó Nguyễn Hữu Tiến đã vẽ lá cờ vào phiến đá để phục vụ việc in ra nhiều bản, chuyển xuống các cơ sở bí mật chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa. Bất ngờ, cơ sở bị lộ, lính Pháp ập đến bắt giữ Nguyễn Hữu Tiến cùng với Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn là đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai.
Trong Công văn số 1685-S ngày 2/8/1940 của Chánh Mật thám Đông Dương P.Aknauk có nhắc đến bản kê khai các tài liệu và vật dụng thu được ở ngôi nhà "hình như là trụ sở nhà in của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương" nêu rõ: "Trong số đó có một lô giấy nến, bàn lăn mực, một số khá lớn giấy trắng, nhiều bản cờ, truyền đơn bằng tiếng Pháp, tiếng An Nam và tiếng Tàu đã rải rác ở Nam Kỳ trong những năm gần đây. Nhiều cuốn sách bí mật và giáo dục cách mạng do Đảng in ra cho các hội, các tổ chức, một bản hô hào phá hoại và vài số bài đề ngày 10, 13 và 20 tháng 7 năm 1940 của báo bí mật mới Tiến lên, sau cùng là một bản truyền đơn về ngày Quốc tế đỏ, đấu tranh chống chiến tranh…"
Sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, Nguyễn Hữu Tiến bị thực dân Pháp xử bắn vào ngày 28/8/1941 cùng với các đồng chí: Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... Trước khi ra pháp trường, ông để lại lời nhắn gửi tha thiết qua bài thơ "Vĩnh biệt" về lòng yêu nước, căm thù giặc cũng như tinh thần bất khuất, cùng niềm tin: "Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai". Theo chú giải của nhà văn Sơn Tùng trong cuốn "Nguyễn Hữu Tiến - Người vẽ cờ Tổ quốc", bài thơ "Vĩnh biệt" của đồng chí Nguyễn Hữu Tiến có nhiều đồng chí thuộc và có khác nhau một số chữ. Nhưng ông đã chọn bài do đồng chí Năm Thái nhớ:
"Vĩnh biệt hôm nay có mấy lời
Nhắn cùng đồng chí khắp nơi nơi
Tinh thần để lại cho non nước
Thù hận ghi sâu giữa đất trời
Án chém Hà Nam đà rũ sạch
Khổ sai Côn Đảo đã qua rồi
Anh em đi trọn con đường nhé
Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai".
Để tưởng nhớ nhà cách mạng tiền khởi nghĩa - liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, năm 1993, Tỉnh ủy - Hội đồng Nhân dân - Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam, huyện Duy Tiên (cũ) đã xây dựng "Nhà tưởng niệm Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến" trên nền ngôi nhà cũ của ông tại quê nhà. Những kỷ vật còn lại về người chiến sĩ cách mạng tiền khởi nghĩa kiên trung không nhiều, trong đó có bức tranh khắc họa Nguyễn Hữu Tiến phác thảo lá cờ đỏ sao vàng của cố nhạc sĩ Văn Cao vẽ, các bài thơ do ông sáng tác và nhiều lá cờ đỏ sao vàng qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc.
Mặc dù đến nay, vẫn tồn tại số ít luận cứ khác nhau về việc "Ai là người đã vẽ lá cờ Tổ quốc?". Song có thể thấy, từ những dữ liệu lịch sử, các bài thơ mà nhà văn Sơn Tùng đã tìm hiểu, sưu tầm, nghiên cứu trong khoảng thời gian dài để viết nên cuốn truyện ký về liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến là hết sức quý giá. Phần còn lại cần được các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu lịch sử tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ.