1. Tôi nhớ, vào dịp gần Tết âm lịch năm 1959-1960 gì đó, nhà thơ Nguyễn Bính cho đăng trên Báo Nam Định một vế đối của anh và... thách đối; người đối hay sẽ có thưởng. (Số tiền thưởng bao nhiêu thì tôi không nhớ).
Chỉ có ba chữ, trong đó có một chữ đồng âm dị nghĩa (dục và giục) nhà thơ có một vế đối thật độc đáo.
Mạn phép tác giả vế đối, tôi ghi thêm những dấu gạch ngang (-) cho dễ đọc:
Tập - thể giục tập - thể tập thể - dục - tập - thể
Sau đó, Báo Nam Định và cả mấy tờ báo ở trung ương nữa có đăng một loạt vế đối hưởng ứng, nhưng không có vế nào đạt yêu cầu. Vế đối của nhà thơ Nguyễn Bính quá hóc búa!
2. Một buổi tối mùa hè năm ấy, tôi đến thăm nhà thơ Xuân Diệu ở 24 Điện Biên Phủ, Hà Nội, như thường lệ.
Vừa bước vào phòng, đã thấy nhà thơ Huy Cận, mặc độc một chiếc quần đùi, mình trần, mồ hôi mồ kê nhỏ ròng ròng, ngồi trên giường, cúi xuống một quyển sách gì đó.
Hỏi ra mới biết nhà thơ đang tìm một câu tục ngữ, theo anh là "Tháng ba sấm động" ở quyển sách đang cầm trong tay - quyển "Tục ngữ ca dao dân ca" của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, tìm mãi mà chưa thấy.
Tôi mời anh nghỉ tay, làm giúp việc anh đang làm dở. Cũng như nhà thơ Huy Cận, tôi lật hết trang nọ đến trang kia, một lúc khá lâu, vẫn không... đạt yêu cầu. Sợ tìm nữa lại toát mồ hôi như nhà thơ, tôi khất anh về nhà tìm, nội nhật hôm sau sẽ thông báo kết quả, (tôi cũng có quyển sách ấy của Vũ Ngọc Phan). Hôm sau, tôi lại tìm, tìm gần toát mồ hôi, nhưng rồi thôi, vì biết chắc quyển ấy không ghi những chữ ấy.
Khá lâu sau đó, đọc trên báo thấy có bài thơ của Huy Cận mang tên "Sấm tháng ba", dưới tên bài thơ ghi "Tháng ba sấm động" (tục ngữ). Bài thơ này, về sau có đưa vào tập thơ của Huy Cận "Chiến trường gần đến chiến trường xa", NXB Thanh niên, H.1973.
Không biết nhà thơ đã tìm được ở đâu hay dựa vào trí nhớ (có thể chưa chính xác) của mình mà ghi đại như vậy? Tôi không có dịp nào hỏi lại.
Rất lâu sau đó, tôi đọc lại quyển "Tuy Lý Vương", lịch sử ký sự của nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình Trần Thanh Mại, thấy ở trang đầu, tác giả viết:
"Rồi trong một sớm một chiều, người ta thấy xuất hiện ra những quyển "Rạch đôi sơn hà", "Cầu vồng Yên Thế", "Vợ ba Đề Thám" (của Quan Viên)... "Tháng ba sấm động", "Quân Bãi Sậy", lại "Vợ ba Cai Vàng" (Quan Viên) và còn nhiều nữa, không thể kể ra hết được".
Như vậy, ta biết chắc "Tháng ba sấm động" là tên một tác phẩm của Quan Viên. Nhưng nó có là tục ngữ hay không, chưa thấy ai nói. Rất có thể, nhà thơ Huy Cận đã biết đến tên quyển sách này, thậm chí đã đọc nó và nhớ tên quyển sách.
Có lẽ, các nhà làm sách tục ngữ ca dao dân ca... nên nghĩ cách nào đấy để giúp người đọc tra cứu thuận lợi hơn, như có câu tục ngữ ấy không, câu ấy có những chữ nào khác những chữ người ta thường đọc, thường nghe.... như trường hợp của nhà thơ Huy Cận.
3. Nhà thơ Trần Đăng Khoa và tôi ngồi trong phòng làm việc của anh ở Trụ sở Hội Nhà văn vào sáng mồng 2 tháng 10 năm 2023, ngay sau khi cả anh và tôi đều vừa đi dự Hội nghị các nhà văn lão thành ở Đồ Sơn và trở về hôm trước (sở dĩ tôi ghi rõ ngày tháng như trên là có lý do).
Nguyên cớ để anh và tôi gặp nhau vào lúc này, là nhân có việc qua Hội Nhà văn, tôi đến để lấy quyển "Đối thoại văn chương" (in lần thứ hai) của nhà thơ Trần Nhuận Minh gửi tặng qua Khoa, và lấy cả mấy quyển sách mà Khoa chưa kịp tặng tôi nữa, trong đó có tập thơ "Góc sân và khoảng trời", NXB Văn học vừa tái bản vào năm 2023 này.
Tôi cầm "Góc sân và khoảng trời" mà Khoa vừa tặng mà giật mình, khi nhìn thấy mấy chữ ở ngay trang đầu: in lần thứ 154.
Chưa kịp hỏi Trần Đăng Khoa xem có phải người ta in sai con số 154 không, thì điện thoại của Khoa đã rung chuông. Đằng kia là giọng một biên tập viên của một nhà xuất bản nào đó đề nghị in lại "Góc sân và khoảng trời". Cô hỏi: trang đầu tiên ghi in lần thứ bao nhiêu. Trần Đăng Khoa bảo ghi là in lần thứ 157. (vì hai bản lần thứ 155 và 156 ở hai chỗ khác đang in, sắp có sách).
Trời đất ơi! Có quyển sách nào, nói cho đúng hơn là có tập thơ nào trên đất nước Việt Nam này, thậm chí trên trái đất này đã được in với số lần nhiều đến thế? Nhất là thơ của một đứa trẻ con?
Không biết, từ sau cái ngày tôi chứng kiến việc in lại "Góc sân và khoảng trời" ấy, đến nay đã có mấy lần in lại nữa? (Đó là chưa kể những lần in lậu ở đâu đó, mà Trần Đăng Khoa cũng không biết được).
Cần lưu ý rằng, chính thơ trong "Góc sân và khoảng trời" này của Trần Đăng Khoa đã làm rúng động đời sống văn chương (và không chỉ văn chương) miền Bắc nước ta, cách đây đã quá nửa thế kỷ (bấy giờ đất nước ta chưa được thống nhất).
Hồi ấy, người ta chuyền nhau những bài thơ của Khoa được chép tay, có người xa hàng trăm cây số cũng tìm về "xem mặt" Trần Đăng Khoa; các nhà thơ nổi tiếng, người này người khác đến Hải Dương gặp Khoa, v.v...
Đời sống xã hội đang rất sôi động vì một hiện tượng thơ chưa từng có như thế, thì bỗng rộ lên tin Trần Đăng Khoa vừa... chết. Người người xôn xao, bàn tán với một niềm tiếc thương, buồn bã. Và, theo tôi biết, đã có một bài thơ viếng Khoa rất cảm động. Người viết bài thơ viếng Trần Đăng Khoa tên là Mạnh Sinh, ở Lạng Sơn.
Cái chuyện "thơ viếng" này, trong văn chương nước ta cũng đã có một trường hợp tương tự, liên quan đến nhà thơ Tản Đà. Bấy giờ là năm 1933. Tản Đà đang nổi như cồn thì một hôm có tin ông "vừa chết". Một nhà giáo, cũng là một người làm báo, viết văn, vốn rất yêu quý Tản Đà, có một bài thơ "Viếng Tản Đà" gửi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy, Tản Đà liền có một bài thơ vui "Cười bác Mai Lâm" cũng đăng ở đấy!
Trở lại chuyện bài thơ viếng Trần Đăng Khoa của bác Mạnh Sinh. Nửa thế kỷ nay hầu như không nghe ai nói gì về bài thơ này - kể cả nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Tôi là người: ..."ngâm cứu", hay tò mò, nhưng lại có cái tính - hay là cái tật - rất ngại làm phiền người khác, nên cho đến nay cũng chưa hỏi nhà thơ Trần Nhuận Minh và nhà thơ Trần Đăng Khoa xem có còn giữ được bài thơ của bác Mạnh Sinh không, nó có còn nằm trong 20 bó tài liệu về thơ Khoa mà anh Minh đang giữ không, nếu còn thì có dịp nào cho người đọc biết không? Tuy nhiên, chung quanh sự việc này, tôi cũng có một chút... duyên nợ, nếu có thể nói như thế. Năm 1997, đến nay là đã 30 năm trôi qua, Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn, mời nhà thơ Trần Đăng Khoa và tôi lên xứ Lạng nói chuyện thơ cho học sinh của trường và một vài nơi khác. Một buổi tối, hai chúng tôi tìm đến nhà thăm bác Mạnh Sinh. Rất tiếc, bác đã qua đời. Hôm sau, con cháu bác đưa chúng tôi ra đồng thắp hương trên mộ, viếng bác, tưởng nhớ một người tri kỷ với Khoa, tri kỷ với thơ. Con cháu bác không quên chụp ảnh, gửi cho Khoa và tôi mỗi người một tấm. Mười năm sau đó, một hôm Khoa đến hỏi tôi tấm ảnh năm xưa để in vào một quyển sách của Khoa, vì Khoa không còn giữ được tấm ảnh của mình. Tôi về nhà, lục khắp nơi khắp chốn đến... toát mồ hôi, cũng không tìm được nốt! Rất tiếc!
Liệu có một cơ hội nào chúng tôi lại lên xứ Lạng, lại đến thăm gia đình bác Mạnh Sinh, lại ra đồng viếng bác, lại chụp mấy tấm ảnh kỷ niệm?