Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026)

Giá trị trường tồn của Tuyên ngôn Độc lập

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 81 năm đã đi qua. Lịch sử đã chuyển sang những chương khác. Thế nhưng, đọc lại bản Tuyên ngôn vào mỗi mùa Quốc khánh, chúng ta vẫn nhận ra những câu chữ còn nguyên giá trị.

8bc8638a8e390f675628.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2/9/1945.

"Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn Độc lập bằng những nguyên lý từng được ghi nhận trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp. Cách đặt vấn đề ấy có một ý nghĩa đặc biệt. Quyền độc lập của Việt Nam không được trình bày như một đặc ân được ban phát, càng không phải một yêu sách chỉ có giá trị trong phạm vi một dân tộc. Nó được đặt trên nền tảng những quyền căn bản của con người mà chính các quốc gia phương Tây từng long trọng tuyên bố.

Từ quyền con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh "suy rộng ra": "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Một chữ "suy rộng" đã mở từ phạm vi cá nhân sang phạm vi dân tộc, từ quyền con người sang quyền dân tộc. Đây là một bước phát triển quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập. Một dân tộc cũng có quyền được sống như một con người có quyền được sống; một dân tộc bị áp bức cũng cần được giải phóng như một con người bị tước đoạt tự do cần được giải phóng. Bởi thế, độc lập đối với Việt Nam năm 1945 trước hết là quyền thoát khỏi thân phận thuộc địa, quyền tự quyết định con đường tồn tại và phát triển của mình.

Nhưng, đọc kỹ Tuyên ngôn, sẽ thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng ở việc tuyên bố chấm dứt một chế độ cai trị. Phần lập luận về tội ác của thực dân Pháp cho thấy cái giá của một dân tộc không có độc lập: quyền sống bị chà đạp, đời sống bị bần cùng hóa, các quyền tự do bị tước đoạt. Độc lập vì thế không phải một khái niệm trừu tượng đứng trên đời sống nhân dân. Nó phải trả lại cho con người những gì chế độ áp bức đã lấy mất.

Sau này, trong bài phát biểu tại Hội nghị quốc tế "Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới" ở Can-cút-ta, Ấn Độ, ngày 14/1/1991, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục nhấn mạnh chiều sâu ấy khi bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh. Ông nhắc lại quan niệm "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và chỉ ra rằng chủ nghĩa thực dân đã đẩy các dân tộc vào đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật, tước đoạt tự do và phẩm giá. Độc lập, nhìn từ đó, không chỉ là sự thay đổi một lá cờ trên nóc một công sở. Đó là sự phục hồi quyền làm chủ vận mệnh của cả một dân tộc.

Nhưng, một nền độc lập muốn đứng vững không thể chỉ dừng ở lời tuyên bố. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập phải đem lại tự do cho con người, còn tự do của mỗi người chỉ có thể được bảo đảm khi dân tộc làm chủ vận mệnh của mình. Cũng trong bài phát biểu đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại một câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do".

Hơn cả một lời khẳng định về giá trị của tự do, những câu thơ được viết từ trải nghiệm của một con người từng nếm trải cảnh tù đày còn cho thấy một chiều sâu khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh: mất tự do là mất quyền làm chủ chính mình; một dân tộc mất độc lập cũng rơi vào tình trạng ấy ở quy mô lớn hơn. Hành trình giữ độc lập tự do không thể thiếu nhân dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Trong sự nghiệp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi lực lượng của nhân dân, của dân tộc là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng". Một nền độc lập được làm nên bởi sức mạnh của nhân dân cũng chỉ có thể bền vững khi sức mạnh ấy tiếp tục được quy tụ, phát huy và chuyển hóa thành năng lực xây dựng đất nước.

Đặt trong hoàn cảnh năm 1945, điều này càng có ý nghĩa. Một đất nước vừa giành chính quyền phải đối mặt với vô vàn thử thách, từ thù trong đến giặc ngoài, từ nạn đói, nạn dốt đến nguy cơ mất nước một lần nữa. Độc lập không thể được giữ bằng ý chí của một bộ phận người. Nó cần sự đồng lòng của hàng triệu người dân, sự quy tụ các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo và cả sự đồng tình của những lực lượng tiến bộ trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn sức mạnh dân tộc trong mối quan hệ với sức mạnh thời đại, đồng thời luôn giữ vững quyền tự quyết của dân tộc mình.

Đọc đến đây, câu chuyện về độc lập bỗng không còn chỉ thuộc về quá khứ. Thế giới đã thay đổi rất xa so với thời đại thuộc địa. Những hình thức thống trị cũ phần lớn đã lui vào lịch sử, song sự phụ thuộc giữa các quốc gia lại mang những diện mạo mới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng cảnh báo rằng, sau khi giành được độc lập về chính trị, các nước chậm phát triển vẫn phải đối mặt với nguy cơ bị chi phối bởi sức mạnh tài chính, kỹ thuật và công nghệ cao; ông gọi đó là sự "tái thuộc địa hóa" trong thực tế.

Cảnh báo ấy đưa chúng ta trở lại với Tuyên ngôn Độc lập, nhưng từ một vị trí khác. Năm 1945, nhiệm vụ lịch sử là giành lấy quyền tự quyết. Cùng với thời gian, nhiệm vụ đó mang thêm một chiều kích mới: làm cho quyền tự quyết ấy có đủ năng lực để trở thành hiện thực trong một thế giới cạnh tranh, liên kết và phụ thuộc lẫn nhau. Tự chủ về kinh tế, làm chủ khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, gìn giữ bản sắc văn hóa, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, nâng cao sức mạnh quốc phòng và vị thế đối ngoại... đều có thể được nhìn như những phương diện mới của bài toán độc lập.

Song, tự chủ không đồng nghĩa với khép mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đặc biệt coi trọng đoàn kết quốc tế, kể cả sự đoàn kết với nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Một dân tộc có bản lĩnh độc lập không sợ hợp tác; trái lại, chính năng lực tự chủ giúp quốc gia bước vào các quan hệ quốc tế với tư thế bình đẳng hơn. Giữ mình và mở cửa, bảo vệ lợi ích dân tộc và hợp tác với thế giới, phát huy nội lực và tiếp nhận tinh hoa bên ngoài - đó là những bài toán mà mỗi thời đại phải tìm lời giải bằng hoàn cảnh của chính mình.

81 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, câu nói cuối văn kiện vẫn vang lên như một lời khẳng định không chỉ dành cho năm 1945: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập". Điều đáng suy ngẫm nằm ở hai chữ "sự thật". Một nền độc lập chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chứng minh bằng sức sống của đất nước, bằng quyền lợi và hạnh phúc của nhân dân, bằng khả năng tự quyết trước những biến động của thời đại.

Mỗi thế hệ có một cách đối diện với thử thách của nền độc lập. Thế hệ năm 1945 đã đứng lên giành quyền được làm chủ vận mệnh dân tộc. Những thế hệ đi sau bảo vệ quyền ấy bằng máu xương, ý chí và sức mạnh đoàn kết. Còn hôm nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập, điều cần nghĩ đến không chỉ là niềm tự hào về một ngày đã trở thành lịch sử. Điều quan trọng, chúng ta đã và đang làm tất cả những gì tốt nhất để nền độc lập mà cha ông đã giành được ngày càng vững vàng, tự chủ và có ý nghĩa hơn trong thế giới của chính chúng ta.

----------

Ghi chú:

- Các trích dẫn về tư tưởng Hồ Chí Minh trong bài được đối chiếu từ "Tuyên ngôn Độc lập" (2/9/1945).

- Các nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được sử dụng từ bài phát biểu "Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi", tại Hội nghị quốc tế "Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới", Can-cút-ta (Ấn Độ), ngày 14/1/1991, theo tư liệu do tác giả cung cấp.

Nguyễn Đình Ánh

Các tin khác

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...