Khi ve sầu tấu lên dàn đồng ca chào hạ cũng là lúc hoa vối đồng loạt bung nở. Xen vào đó là những nụ vối nhỏ xinh, xanh mướt như những hạt ngọc non, kết thành từng chùm bám chặt vào cành mẹ xù xì. Hương vối chỉ thoang thoảng thơm. Hẳn không phải người quê thì chẳng dễ gì cảm nhận được. Một thứ hương thơm ngai ngái, mộc mạc pha chút thanh khiết của đất trời, nắng gió. Hoa vối không rực rỡ như hoa gạo tháng Ba, cũng không ngọt ngào như hoa bưởi tháng Giêng. Hoa vối trắng khiêm nhường, tựa như tính cách mộc mạc của những thiếu nữ miền quê đằm thắm dịu dàng.
Trong vòm sương khói của mùa hoa năm ấy, có một khoảng lặng cho đến tận bây giờ vẫn vẹn nguyên trong ký ức tôi. Đó là người bạn cùng học từ lớp vỡ lòng cho tới cấp ba với tôi chuẩn bị trả phép về đơn vị. Còn tôi sinh viên năm 2 cũng trở lại trường. Tôi với nó bằng tuổi nhau, cũng có thể gọi là "thanh mai trúc mã". Tối hôm ấy hai đứa ngồi dưới gốc vối già, trăng hạ tuần hắt bóng qua kẽ lá. Bạn im lặng nhấp từng ngụm nước vối ngọt chát. Nó cười, bảo tôi ở lại trông hộ cây vối, đợi ngày hoàn thành nhiệm vụ hai đứa lại cùng nhau pha một ấm trà vối đậm đà. Cái nắm tay thật chặt dưới cơn mưa hoa vối rụng trắng vai áo lính tối hôm ấy đã trở thành một trong những kỉ niệm khó quên về tuổi thanh xuân của tôi. Và có lẽ trong ký ức của những người con sinh ra từ làng, cây vối là một phần hồn quê không thể tách rời:
"Thời gian điểm trắng tóc mây trôi/ cây vối bờ ao vẫn đợi người/ nhành vối năm xưa còn khoe nhụy/ giữ mãi tình quê chẳng biến suy...".
Những ngày đầu hạ, cây vối bước vào mùa ra nụ, lúc này mẹ bảo mấy chị em tôi bắc thang trèo cây để bứt những chùm non xuống để mẹ ủ, trước khi phơi khô cất đi để dùng dần, cũng như để bán. Nụ vối trổ bông đồng loạt nên hái không xuể, vì vậy mà những chùm nụ ở cành cao, xa tầm với do không hái kịp, thì chỉ tuần sau là chúng nở hoa trắng ngần, với chùm râu tua tủa, tỏa hương thơm dịu dàng. Những chùm hoa vối này cũng chỉ độ mươi ngày sau dần rụng cánh để thành quả, ấp ủ cho một mùa quả chín mọng ở phía trước...
Và có lẽ, mong ước của lũ trẻ chúng tôi là được nhìn vối chín sớm. Nhưng dù sao thì vẫn phải chờ đến cuối hè vối mới chín. Ngày ấy chả phải học thêm như bây giờ, vì vậy mà thời gian rảnh rỗi là tôi hay rủ mấy anh chị em con nhà bác sang trèo cây hái quả ăn. Quả vối xanh có vị chua chát, nhưng khi vối chín đỏ thì thơm lắm, chỉ ngửi thấy thôi đã ứa cả nước miếng. Đặc biệt, vối chín có vị chua thanh pha ngọt, ăn mãi mà không chán. Tuy vậy, hạt quả vối rất chát, thậm chí đắng ngắt, nên khi ăn chúng tôi chỉ gặm hết phần cùi vỏ bên ngoài rồi nhả hạt ra. Chẳng vậy mà cứ đến mùa vối chín là cây vối nhà tôi lại tập trung lũ trẻ chơi đùa vây quanh dưới gốc. Mỗi lúc trèo cây hái quả ăn chán, bọn chúng tôi lại chơi các trò chơi nhảy nụ bịt mắt bắt dê... cả trò cô dâu chú rể mà đồ sính lễ là vối chín tím rịm gói lá chuối, thắt nơ bằng sợi rơm vàng.
Cây vối ngoài việc làm bóng mát, điều hòa dưỡng khí cho môi trường sống thêm trong lành, quanh năm cây còn cho lá làm thức uống với tác dụng thanh nhiệt, mát lành. Từ bao đời nay, người dân quê ở hầu khắp các vùng miền trên đất nước ta đã biết tới tác dụng của lá và nụ hoa vối. Nụ vối thường được ủ kỹ, phơi khô. Có nhà bỏ nụ vối vào ấm đun sôi lên, hoặc cho vào bình tích hãm nước nóng như kiểu pha trà. Theo y học, đây là thứ nước uống có nhiều tác dụng như thanh nhiệt, giải độc, mát gan, và đặc biệt nó rất lành. Mấy lần tôi sinh con, mẹ tôi đều gửi nụ vối và một ít củ gừng tươi để tôi hãm uống những ngày trong cữ.
Với lá vối, ngoài việc bỏ nắm lá vào ấm, vào nồi đun chín uống tươi như kiểu uống lá trà xanh ra, thì còn một cách chế biến thông thường khác nữa là, lá được bứt xuống, cho vào ủ chín cho tới khi lá có màu úa vàng rồi mang rửa qua nước cho sạch nhớt, bụi bẩn, sau đó đem phơi khô. Mỗi năm cứ vào dịp tết Đoan Ngọ là mẹ tôi lại bảo chị em tôi đứa vặt lá vối đứa lấy lá tre lá cam thảo nam lại cả lá duối về cắt ra ủ rồi phơi khô gọi là lá thuốc giết sâu bọ. Lá khô có thể dùng quanh năm và đôi khi còn làm quà cho người thân ở thành phố về. Nhà tôi gần cánh đồng, ngày bà tôi còn, cứ mỗi sáng mùa hè vào vụ gặt, bà tôi lại dậy sớm nấu một nồi nước vối tươi để nguội rồi bắc lên chiếc chõng tre ngoài trái nhà, thêm mấy cái bát, rá khoai luộc vài cái quạt mo cau để chờ mấy cô bác đi làm đồng về ghé qua... và bao câu chuyện làng trên xóm dưới đều được thông báo nơi chõng tre này.
Chúng tôi lớn lên rời xa bóng vối quê nhà để rẽ vào những con đường lập nghiệp khác nhau. Thế nhưng mỗi độ hạ sang, tôi nhớ bà nhớ mẹ trái tim lại thổn thức neo mình vào khoảng trời sương khói cũ. Nơi đó, mùa hoa vối vẫn lặng lẽ nở, lặng lẽ thơm, vẹn nguyên như một góc hồn quê trong tôi chưa bao giờ phai nhạt. Ngước lên nhìn hoa vối nhà, tôi biết tết Đoan Ngọ đã thật gần.
KHÚC RU MÙA
Chiều đưa em về thời cái vạc cái nông
Nghe sông hát khúc ru mùa đang tới
Lưỡi liềm cong gọi nhau vào trấu đợi
Lúa đỏ đầu, dấu hỏi khắc trời xanh
Ngoài bến sông câu hát ngọt lành
Vải thiều chín giục ve sầu lần lữa
Mùa gặt về quê mình đồng chan lửa
Ếch gọi tình châu chấu chờ trăng
Về đâu rồi, bát nước chè xanh
Soi ánh mắt tìm nhau say hương lúa
Chiếc cù nèo thì thầm lời ai hứa
Trục quay tròn nưng nức hạt vàng thơm
Hỏi tiếng gà gáy ngược đầu thôn
Còn nhớ chăng cây rơm mùa năm ấy
Áo em nâu, ngực tròn căng hạt mẩy
Sợi rơm nào anh làm chỉ buộc tay
Em thẫn thờ... nâng hạt ngọc trên tay
Đồng cô độc, cò vạc buồn đi mãi
Cá, tôm, cua, cào cào không trở lại
Người xa rồi nhớ biết gửi về đâu?