Văn Cao - người mở đường cho trường ca hiện đại

Trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, Văn Cao (1923-1995) là một trường hợp nghệ sĩ hiếm hoi đạt tới tầm vóc toàn diện và tiên phong trên nhiều lĩnh vực: âm nhạc, hội họa và thi ca. Nếu trong âm nhạc ông là người đặt nền móng cho ca khúc hiện đại Việt Nam với "Tiến quân ca", "Trường ca sông Lô", thì trong thơ, "Những người trên cửa biển" (1956) chính là tác phẩm đánh dấu bước đột phá lớn nhất của ông vào hình thức trường ca thơ tự do hiện đại.

012b50e8-7558-4adb-98bc-0393aec6205c.jpg -0
Nhà thơ, nhạc sĩ Văn Cao.

Ra đời vào thời điểm lịch sử, trong không khí xây dựng hòa bình với nhiều khó khăn, xung đột, trường ca này không chỉ phản ánh một giai đoạn lịch sử của Hải Phòng và miền Bắc, mà còn là tuyên ngôn nghệ thuật của một cái tôi sáng tạo không chấp nhận giản lược hiện thực và con người, và sau đó đã được nhìn nhận như một trong những trường ca hiện đại quan trọng nhất của văn học Việt Nam đương đại.

Một cột mốc của thi pháp trường ca

Trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX, trường ca là một thể loại vừa giàu tiềm năng vừa nhiều thách thức. Không ít tác phẩm trường ca từng rơi vào lối viết minh họa lịch sử, đơn tuyến cảm hứng, hoặc bị chi phối bởi yêu cầu thời sự trước mắt. Chính trong bối cảnh ấy, "Những người trên cửa biển" của Văn Cao nổi lên như một trường hợp đặc biệt: một trường ca sớm vượt khỏi quỹ đạo sử thi truyền thống để tiếp cận tư duy hiện đại về con người, lịch sử và nghệ thuật.

Ra đời năm 1956, "Những người trên cửa biển" của Văn Cao là một trường ca có chân dung đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Không chỉ phản ánh chân thực và dữ dội một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của thành phố Hải Phòng và miền Bắc, tác phẩm còn đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy nghệ thuật về trường ca: từ mô hình sử thi - minh họa sang cấu trúc mở, đa thanh, giàu chiều sâu nhân bản.

Trong di sản thi ca của Văn Cao, "Những người trên cửa biển" là tác phẩm có vị trí đặc biệt, không chỉ bởi quy mô và độ phức hợp nghệ thuật, mà còn bởi số phận lịch sử nhiều thăng trầm. Viết năm 1956, trường ca này từng xuất hiện rải rác trên các Báo Văn nghệ, và nhiều thập niên sau mới được nhìn nhận đầy đủ giá trị. Đọc lại hôm nay, có thể khẳng định: "Những người trên cửa biển" là một trong những tác phẩm sớm nhất và tiêu biểu nhất đã mở đường cho tư duy trường ca hiện đại trong văn học Việt Nam.

Trong trường ca này, thành phố Hải Phòng là không gian lịch sử của thân phận con người. Không lựa chọn lối viết ngợi ca mang tính minh họa, Văn Cao dựng lên Hải Phòng như một không gian lịch sử nhiều tầng, nơi hiện thực đời sống, ký ức cá nhân và vận động xã hội đan xen chặt chẽ. Hải Phòng hiện ra trước hết là thành phố cửa biển, nơi tiếp nhận những dòng người tứ xứ, những phận người bị xô dạt khỏi làng quê truyền thống để đối diện với đời sống công nghiệp khắc nghiệt.

Một trong những giá trị tư tưởng nổi bật của "Những người trên cửa biển" là cái nhìn không né tránh bi kịch. Văn Cao không làm mờ đi những mất mát mà chiến tranh xâm lược của thực dân đế quốc và áp bức gây ra. Trường ca ghi lại những năm tháng tối tăm của lịch sử với giọng điệu trực diện, nhiều khi nặng nề và đau xót.

Bi kịch ở đây không chỉ là cái chết, mà là sự tước đoạt tuổi trẻ, tình yêu, niềm vui sống, là những tổn thương tinh thần kéo dài trong ký ức con người với những câu thơ mở đầu trường ca: "Sinh tôi ra đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi Sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông/ Tôi nghe tiếng hát mẹ chiều ru võng/ Những ca dao của đồng lúa quê hương/ Những dáng cò lặn lội/ Những cánh cò bồng bế tôi đi/ Những bóng cò trắng như giấc mộng/ Đưa võng đời tôi những buổi chiều dĩ vãng/ Sáng trưa u ú còi tầm/ Đêm dài nghe mưa dầm dãi/ Tôi không có quê hương".

Tuy nhiên, tác phẩm không dừng lại ở việc mô tả nỗi đau. Điều đáng chú ý là Văn Cao không nhìn con người như những nạn nhân bất lực của lịch sử. Ngược lại, xuyên suốt trường ca là quá trình con người ý thức dần về sức mạnh của mình, từ chỗ bị động đến chỗ trở thành chủ thể hành động. Niềm tin trong tác phẩm không mang tính áp đặt hay khẩu hiệu, mà hình thành từ trải nghiệm sống, từ lao động, đấu tranh và đoàn kết.

Chính sự kết hợp giữa bi kịch lịch sử và niềm tin nhân bản đã tạo nên chiều sâu tư tưởng cho trường ca. Văn Cao không tô hồng hiện thực, nhưng cũng không tuyệt đối hóa bóng tối. Con người trong "Những người trên cửa biển" hiện lên với đầy đủ giới hạn và khả năng, đau khổ và khát vọng trong một cái nhìn gần với tinh thần nhân văn hiện đại. Một trong những giá trị tư tưởng sâu sắc nhất của trường ca là cái nhìn không né tránh bi kịch. Văn Cao không làm mờ đi những đau khổ của chiến tranh, đói nghèo, áp bức, mất mát:

Ôi Hải Phòng vết thương miền Bắc
Cổ họng chúng ta ngày đêm rỏ máu

bìa tuy%3fn t%3fp tho van cao.jpg -1
Bìa “Tuyển tập thơ Văn Cao”.

Chiến tranh, thực dân, bóc lột, đói rét, bão tố… không được kể lại như những thử thách lãng mạn, mà như những vết cắt trực tiếp lên thân thể con người. Văn Cao viết về người thợ, người đàn bà đứng đợi chồng ngoài biển bão, những xác người trôi về bến, những tuổi trẻ bị tước đoạt, tất cả tạo nên một bi kịch tập thể, nhưng không rơi vào bi lụy.

Trường ca như một cấu trúc mở của lịch sử và ký ức

Về mặt hình thức, "Những người trên cửa biển" là một thử nghiệm táo bạo. Văn Cao không tổ chức trường ca theo lối tự sự tuyến tính hay theo mô hình sử thi truyền thống. Tác phẩm được xây dựng như một cấu trúc mở, nơi các mảnh hiện thực, ký ức, suy tưởng và cảm xúc liên tục đan xen, tạo thành một dòng chảy ý thức lịch sử.

Cái "tôi" trữ tình trong trường ca không đứng tách biệt, mà hòa vào cái "chúng ta" của cộng đồng. Người kể vừa là nhân chứng, vừa là người suy tư, vừa là kẻ tự vấn chính mình. Giọng điệu vì thế mang tính đa thanh, linh hoạt, phản ánh một thế giới đang vận động và chưa ổn định. Thơ tự do của Văn Cao ở đây không đơn thuần là phá bỏ niêm luật, mà là giải phóng nhịp điệu tư duy. Câu thơ có thể kéo dài, dồn nén, mang nhịp thở gấp gáp của lịch sử; cũng có thể lắng xuống, giàu chất trữ tình và suy tưởng. Chính hình thức này cho phép tác phẩm bao quát được hiện thực rộng lớn mà vẫn giữ được chiều sâu nội tâm.

Một điểm đáng chú ý khác của trường ca là cách sử dụng ngôn ngữ. Văn Cao đưa vào thơ những chất liệu đời sống công nghiệp vốn xa lạ với thi ca truyền thống: nhà máy, kho hàng, máy móc, xi măng, dầu mỡ… Tuy nhiên, những yếu tố ấy không làm khô cứng thơ, mà ngược lại, được tổ chức trong một nhịp điệu giàu chất nhạc và hình ảnh. Bên cạnh đó, hệ thống biểu tượng như biển, sóng, chim nhạn, chim yến, hoa phượng, ngọn lửa… được triển khai xuyên suốt, tạo nên một trường liên tưởng rộng. Biển vừa là không gian sinh tồn, vừa là biểu tượng của khát vọng, của tương lai chưa khép lại. Con người đứng trước biển cũng chính là đứng trước lịch sử và trước chính mình.

Đáng lưu ý, "Những người trên cửa biển" không chỉ viết về lao động và đấu tranh, mà còn dành dung lượng đáng kể cho tình yêu, hạnh phúc cá nhân, những rung động đời thường. Điều này giúp tác phẩm vượt ra khỏi khuôn mẫu của một bản anh hùng ca đơn tuyến, để trở thành một trường ca giàu tính nhân bản, nơi con người được nhìn trong toàn bộ đời sống tinh thần của mình.

Có thể nói, "Những người trên cửa biển" là một trong những tác phẩm sớm nhất đặt nền móng cho trường ca hiện đại Việt Nam. Ở đó, trường ca không còn là sự phóng đại hiện thực theo mô thức sử thi cổ điển, mà trở thành không gian tư duy nghệ thuật, nơi lịch sử được nhìn bằng con mắt của con người cá nhân.

"Những người trên cửa biển" không chỉ là trường ca viết về Hải Phòng, mà là một tác phẩm phản ánh sâu sắc thân phận con người Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động. Với tư duy nghệ thuật hiện đại, cấu trúc mở và chiều sâu nhân văn, Văn Cao đã tạo nên một tác phẩm vượt khỏi giới hạn thời đại ra đời của nó. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, trường ca ấy vẫn đặt ra những câu hỏi căn bản cho thi ca: làm thế nào để thơ vừa trung thành với sự thật lịch sử, vừa giữ được niềm tin, khát vọng và phẩm giá con người. Chính ở điểm đó, "Những người trên cửa biển" vẫn còn nguyên giá trị gợi mở đối với đời sống thơ Việt Nam đương đại.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.