Nghệ thuật ngôn từ trong nhạc điệu thi ca

Thơ ca trước hết là nghệ thuật của ngôn từ, nhưng ngôn từ trong thơ không chỉ mang nghĩa mà còn mang âm hưởng. Một câu thơ hay không chỉ làm người đọc hiểu, mà còn khiến người đọc nghe thấy, cảm thấy, rung động theo một nhịp bên trong.

Nhạc điệu chính là hơi thở của bài thơ

Vì vậy, nhạc điệu và nhịp điệu giữ vai trò vô cùng quan trọng trong sáng tạo thơ. Nhạc điệu là âm hưởng, là tiếng ngân, là sự phối hợp của thanh bằng, thanh trắc, vần, âm, tiết tấu, sự lặp lại và khoảng lặng. Nhịp điệu là cách câu thơ chuyển động, nhanh hay chậm, gấp hay lơi, dồn dập hay khoan thai, đứt đoạn hay liền mạch. Nếu hình ảnh tạo nên phần "thấy" của thơ, tư tưởng tạo nên phần "nghĩ" của thơ, thì nhạc điệu và nhịp điệu tạo nên phần "nghe" và phần "rung động" của thơ.

Trong thơ, mỗi chữ còn có âm vang, nhịp thở, màu sắc, độ ngân, độ lắng. Vì thế, sáng tạo nhạc điệu thi ca trước hết là sáng tạo bằng ngôn từ. Nhà thơ không chỉ chọn chữ cho đúng nghĩa, mà còn chọn chữ cho đúng âm, đúng nhịp, đúng cảm xúc. Một câu thơ hay thường là câu thơ trong đó nghĩa và âm hòa vào nhau, khiến người đọc không chỉ hiểu bằng trí óc mà còn rung động bằng cảm giác.

nha-tho-be-kien-quoc.jpg
Nhà thơ Bế Kiến Quốc.

Nhạc điệu thi ca được tạo nên từ nhiều yếu tố của ngôn từ: thanh điệu, vần, nhịp, cách ngắt câu, sự phối hợp giữa âm bằng và âm trắc. Trong tiếng Việt, thanh điệu có vai trò đặc biệt quan trọng. Những thanh bằng thường tạo cảm giác êm, nhẹ, ngân dài, những thanh trắc thường tạo cảm giác gấp, sắc, mạnh, dồn nén. Khi nhà thơ biết phối hợp bằng - trắc linh hoạt, câu thơ sẽ có nhạc tính tự nhiên. Chẳng hạn, một câu thơ nhiều thanh bằng có thể gợi sự êm đềm, bâng khuâng, mênh mang, một câu thơ nhiều thanh trắc có thể gợi sự đau xót, căng thẳng, đứt gãy hoặc dữ dội.

Qua các bài thơ của Bế Kiến Quốc và Hoàng Nhuận Cầm, có thể thấy rất rõ vai trò ấy. Cả hai nhà thơ đều giàu cảm xúc, đều có khả năng dựng hình ảnh, nhưng cái làm nên sức hấp dẫn riêng của mỗi người không chỉ ở hình tượng, mà còn ở cách họ tổ chức âm thanh và nhịp thơ. Bế Kiến Quốc thường nghiêng về nhạc điệu trong trẻo, tinh tế, nhiều khi như một khúc ca nhẹ, một tiếng ngân mơ hồ của thiên nhiên và nội cảm. Hoàng Nhuận Cầm lại có nhịp thơ sôi nổi, trẻ trung, giàu kịch tính, nhiều khi tha thiết như lời gọi, lời hẹn, và tình yêu. Từ hai phong cách ấy, ta thấy nhạc điệu và nhịp điệu không phải phần phụ họa cho thơ, mà chính là phương thức biểu hiện tâm hồn thơ.

Trong bài "Thành Chương vẽ" của Bế Kiến Quốc, nhạc điệu được tạo nên từ cấu trúc lặp rất rõ: "Như chùm ớt lửng lơ treo bờ giậu /Càng đắng cay càng tự chín trong vườn /Thành Chương vẽ /Vẽ - và đang cất giấu /Từng mảnh rời tuyệt mỹ của Trần Gian/ Như đầm sen tàn cuối chiều nhạt nắng/Cuống trơ vơ rầu héo tận trong bùn /Thành Chương vẽ/ Vẽ - và đang bay liệng /Trên cõi màu kỳ ảo của Vô Biên/ Như khóm chuối chẳng lá nào lành lặn /Xác xơ anh đứng gió trước heo may /Thành Chương vẽ /Vẽ - và đang cầu nguyện/ Cho phục nguyên Thế Giới tả tơi này".

Ở bài thơ này, nhịp thơ không nhanh. Nó trầm, chắc, có độ ngừng. Câu "Thành Chương vẽ" được tách riêng như một nhát cọ. Sau đó, chữ "Vẽ" được lặp lại, rồi nối với các động từ "cất giấu", "bay liệng", "cầu nguyện". Nhịp điệu ấy làm nổi bật quá trình sáng tạo của người họa sĩ, không phải chỉ vẽ cái nhìn thấy, mà cất giấu cái đẹp, bay qua cõi màu, cầu nguyện cho thế giới tả tơi. Nếu viết liền thành văn xuôi, ý thơ vẫn còn, nhưng sức vang sẽ mất đi. Chính cách ngắt nhịp đã biến hành động "vẽ" thành một nghi lễ nghệ thuật. Nhịp thơ vì thế góp phần tạo chiều sâu tư tưởng khi nghệ thuật là cách phục nguyên những mảnh rời tuyệt mỹ của trần gian.

Nhịp điệu làm tăng sức truyền cảm của tư tưởng

Nếu Bế Kiến Quốc có nhạc điệu tinh tế của tư tưởng, thì Hoàng Nhuận Cầm trong bài "Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến" lại tạo nên một nhịp điệu khác, vừa tha thiết, vừa tiếc nuối, vừa bùng lên cảm xúc tình yêu. Câu thơ mở đầu "Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến/ Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi/ Còn sót lại trên bàn bông cúc tím/ Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi/ Hò hẹn mãi cuối cùng em đã tới/ Như cánh chim trong mắt của chân trời/ Ta đã chán lời vu vơ, giả dối/ Hót lên! Dù đau xót một lần thôi/ Chần chừ mãi cuối cùng em cũng nói/ Rằng bồ câu không chết trẻ bao giờ…". Bài thơ dùng điệp cấu trúc "Hò hẹn mãi cuối cùng...", "Chần chừ mãi cuối cùng..." để tạo nhịp chờ đợi. Mỗi lần lặp lại, cảm xúc lại đổi sắc. Lần đầu là em đến, lần sau là em tới, rồi em nói, rồi em đứng đó. Cả bài thơ như một chuỗi chuyển động chậm của cuộc gặp gỡ. Nhưng trong chuyển động ấy, thời gian đã làm mất đi một phần vẻ đẹp: mùa thu đi rồi, hoa cúc tàn, bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi. Nhịp thơ ở đây không đều đều mà có nhiều độ gấp, nhiều cú rẽ đột ngột. Câu "Hót lên! Dù đau xót một lần thôi" vang lên như một lời thúc giục, một nốt cao trong bản nhạc tình yêu. Đó là nhịp của tuổi trẻ: không chấp nhận lặng câm, muốn nói thật, yêu thật, đau thật.

nha-tho-hoang-nhuan-cam-1952-2021.jpg
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.

Hoàng Nhuận Cầm cũng rất giỏi tạo nhịp bằng những hình ảnh có sức va đập. "Quả tim anh như căn nhà bé nhỏ/ Gió em vào nếu chán - gió lại ra" là hai câu có nhịp vừa hồn nhiên vừa xót xa. Nhịp thơ tưởng nhẹ nhưng chứa một sự bất an sâu. Bài thơ kết lại bằng câu "Dẫu mùa thu, hoa cúc cướp anh rồi". Câu thơ có nhạc điệu buồn, như một tiếng buông tay. Ở đây, nhịp điệu không chỉ diễn tả câu chuyện hẹn hò, mà diễn tả toàn bộ tâm lý yêu: chờ, mừng, tiếc, sợ hãi, hy vọng, thất vọng.

Từ các bài thơ trên, có thể thấy nhạc điệu và nhịp điệu trong thơ có nhiều vai trò quan trọng. Trước hết, chúng làm cho thơ khác văn xuôi. Cùng một nội dung về mùa thu, tình yêu, hội họa nếu diễn đạt bằng văn xuôi, người đọc có thể hiểu ý. Nhưng thơ cần nhiều hơn sự hiểu. Thơ cần âm vang. Nhạc điệu làm cho câu chữ có khả năng ngân lên, lưu lại, trở đi trở lại trong trí nhớ.

Trong thơ, nhạc điệu và nhịp điệu góp phần tạo hình tượng. Hình tượng không chỉ hiện ra bằng nghĩa của chữ, mà còn bằng âm thanh của chữ. Nhạc điệu làm tăng sức truyền cảm của tư tưởng. Bế Kiến Quốc viết về Thành Chương như người họa sĩ đang cầu nguyện cho thế giới tả tơi, nếu không có nhịp điệu lặp của "Thành Chương vẽ / Vẽ - và đang...", ý tưởng ấy sẽ khó có độ vang. Nhạc điệu chính là con đường để tư tưởng đi vào cảm xúc người đọc. Hoàng Nhuận Cầm nghiêng về nhịp thơ trẻ, nhiều cảm xúc trực tiếp, nhiều chuyển động, nhiều lời gọi.

Như vậy, qua các bài thơ của Bế Kiến Quốc và Hoàng Nhuận Cầm, có thể khẳng định nhạc điệu và nhịp điệu là yếu tố thiết yếu trong sáng tạo thơ. Chúng làm cho thơ có âm vang, có cấu trúc cảm xúc, có sức gợi hình, có khả năng truyền tải tư tưởng và bộc lộ phong cách cá nhân. Một bài thơ thiếu nhạc điệu có thể còn ý, nhưng khó có hồn. Một câu thơ thiếu nhịp điệu có thể còn nghĩa, nhưng khó gây rung động. Chính nhạc điệu và nhịp điệu làm cho ngôn từ thơ vượt lên khỏi lời nói thông thường, trở thành tiếng nói của cảm xúc, của ký ức, của niềm tin, của những rung động sâu xa trong tâm hồn con người.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.