Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Trong số đó, Trần Nhương là một gương mặt đáng chú ý. Tập thơ "Gió bồn chồn Giêng Hai" của ông vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành không chỉ là một tuyển tập thơ chiến tranh đơn thuần, mà còn là một bản trường ca nhiều tầng về con người, lịch sử và đời sống Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt của thế kỷ XX.

Phẩm chất thơ giàu hiện thực và nhân văn

Tập thơ "Gió bồn chồn Giêng Hai" mới xuất bản của Trần Nhương là một chỉnh thể giàu cảm xúc, kết tinh từ trải nghiệm chiến tranh, đời sống lao động và những rung động tinh tế của con người Việt Nam trong những năm tháng nhiều biến động của đất nước. Qua những bài thơ trải dài từ thời kháng chiến chống Mỹ đến giai đoạn sau chiến tranh, tập thơ thể hiện một thế giới nghệ thuật phong phú: vừa hào sảng, bi tráng, vừa trữ tình, sâu lắng. Từ đó, phong cách thơ của Trần Nhương hiện lên với những đặc điểm nổi bật: giàu chất hiện thực, giàu hình tượng, giàu cảm xúc nhân văn và thấm đẫm tinh thần dân tộc.

nhà tho tr-n nhuong.jpg -1
Nhà thơ Trần Nhương.

Đọc "Gió bồn chồn Giêng Hai", ta bắt gặp những con đường Trường Sơn khói lửa, những cô gái mở đường, những người lính lái xe, những người mẹ, người nông dân, người thợ... Nhưng, điều đáng nói hơn cả là cách nhà thơ biến những chi tiết đời thường ấy thành những hình tượng nghệ thuật mang chiều sâu nhân văn. Chính ở điểm này, thơ Trần Nhương vừa mang dáng dấp của thơ chiến tranh, vừa vượt ra khỏi giới hạn của thơ chiến tranh thuần túy.

Điểm nổi bật trước hết của tập thơ là cảm hứng lớn về đất nước trong chiến tranh. Trần Nhương không viết chiến tranh bằng giọng điệu bi lụy hay khốc liệt thuần túy, mà bằng một cảm hứng vừa anh hùng ca, vừa trữ tình. Chiến tranh hiện lên trong thơ ông như một bối cảnh thử thách, nơi vẻ đẹp con người được tỏa sáng.

Trong bài "Vành trăng trên đèo Ba Pông", hình ảnh cô gái sửa đường trên đỉnh đèo giữa chiến tranh trở thành biểu tượng của vẻ đẹp tuổi trẻ. Giữa không gian hiểm trở của núi rừng, hình ảnh "môi em nở hiện một vành trăng nhỏ" đã nâng cô gái lao động lên tầm biểu tượng.

Vành trăng ấy không chỉ là vẻ đẹp của một người con gái mà còn là ánh sáng của niềm tin và hy vọng trong chiến tranh. Những người lính lái xe Trường Sơn cũng hiện lên với vẻ đẹp bình dị mà anh hùng.

Trong nhiều bài thơ khác như "Đèo Khỉ", "Qua cầu phao", "Ngủ giữa cung đường", con đường Trường Sơn hiện lên như một không gian thiêng liêng của lịch sử. Đó là nơi bom đạn dữ dội nhưng cũng là nơi nảy sinh tình đồng đội, tình yêu và niềm lạc quan.

Bên cạnh hình tượng người lính, tập thơ còn khắc họa vẻ đẹp của những con người bình dị ở hậu phương. Những cô gái mở đường, người thợ máy bơm, người nông dân, người mẹ... đều trở thành nhân vật trữ tình trung tâm.

Bài "Nắng" là một bức tranh đẹp về hậu phương. Nắng không chỉ là ánh sáng thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự sống và niềm tin. Nắng đi vào hạt lúa, vào bữa cơm, vào tình yêu quê hương. Qua đó, nhà thơ gửi gắm tư tưởng: hậu phương chính là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng tiền tuyến.

Thơ mang sắc thái trầm lắng, giàu ký ức đời sống

Một trong những bài thơ giàu suy tư nhất là "Đất nước những ngày này". Ở đây, giọng thơ Trần Nhương chuyển sang suy tư lịch sử. Nhà thơ nói với thế hệ tương lai rằng, những năm tháng gian khó của đất nước sẽ không thể nhìn thấy bằng "thấu kính tầm xa", mà phải hiểu bằng thơ ca và ký ức.

Đó là một cách khẳng định vai trò của văn học trong việc lưu giữ lịch sử và tinh thần dân tộc với những câu thơ: "Nhưng con không thể nhìn về những ngày này/ Bằng thấu kính tầm xa/ Con hãy nhìn vào trang thơ Cha viết/ Đất nước những ngày này/ Bao nghĩa trang chưa đón hết người về/ Bom đã rơi Lạch Trường, Đồng Hới/ Dòng sông nào cũng tiếng bờ nam gọi/ Hạt gạo sông Hồng sáng dọc Trường Sơn".

Sau chiến tranh, cảm hứng thơ Trần Nhương mở rộng sang đời sống hòa bình. Những bài như "Hai bờ châu thổ", "Tâm sự người thợ máy bơm", "Biên giới mùa xuân" cho thấy một đất nước đang hồi sinh. Con người lao động trở thành trung tâm của thi ca, mang trong mình niềm vui xây dựng cuộc sống mới. Một nét đặc sắc trong tư tưởng của tập thơ là tình yêu con người. Trần Nhương không miêu tả con người như những biểu tượng khô cứng của chủ nghĩa anh hùng mà như những cá thể sống động, có cảm xúc, có tình yêu, có nỗi nhớ.

2.jpg -0
Nhà thơ Trần Nhương. Bìa tập thơ "Gió bồn chồn Giêng Hai".

Trong bài "Ngủ giữa cung đường", những người lính lái xe ngủ ngay trong buồng lái giữa trọng điểm bom đạn. Cảnh tượng ấy vừa căng thẳng, vừa bình yên. Tiếng bom gầm bên ngoài nhưng trong xe vẫn là "giấc ngủ say sưa". Chi tiết này làm nổi bật sự bình thản của người lính trước hiểm nguy.

Hay, trong bài "Đường ra trận", hình ảnh cô gái lái xe vừa mang vẻ đẹp nữ tính, vừa mang phẩm chất anh hùng. Những chi tiết rất đời thường với bàn tay đan len, đôi má đỏ, mái tóc thơm mùi chanh sả... Nhưng, chính cô gái ấy lại là người lái xe vượt qua những cung đường bom đạn. Sự kết hợp giữa vẻ đẹp dịu dàng và ý chí mạnh mẽ tạo nên một hình tượng phụ nữ Việt Nam thời chiến đầy sức sống.

Đặc biệt, trong bài "Mẹ Âu Cơ", Trần Nhương đã nâng hình tượng người mẹ lên tầm biểu tượng dân tộc. Từ người mẹ tiễn con ra trận đến những người mẹ vùng chiến khu, tất cả hòa vào hình tượng Mẹ Âu Cơ - nguồn cội của dân tộc Việt Nam. Qua đó, nhà thơ khẳng định một tư tưởng lớn: đất nước được nuôi dưỡng bằng tình mẫu tử và lòng hy sinh của bao thế hệ. Phong cách thơ của Trần Nhương trong tập thơ này có thể khái quát qua 3 đặc điểm chính: giàu chất hiện thực, giàu hình tượng và giàu nhạc điệu.

Một điểm đặc biệt của tập thơ là tinh thần lạc quan xuyên suốt. Dù viết về chiến tranh hay khó khăn của đời sống, giọng thơ vẫn hướng về tương lai. Nếu thơ Phạm Tiến Duật nổi bật bởi giọng điệu trẻ trung và tinh nghịch của tuổi trẻ Trường Sơn, nếu thơ Nguyễn Duy thiên về suy tư triết lý về thân phận con người, thì thơ Trần Nhương lại mang sắc thái trầm lắng, giàu chất ký ức và giàu chất đời sống.

Điểm đặc biệt của ông là khả năng nhìn thấy vẻ đẹp của con người trong những chi tiết bình dị nhất của đời sống chiến tranh. Với "Gió bồn chồn Giêng Hai", Trần Nhương đã tạo nên một tập thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Từ những ký ức chiến tranh đến đời sống hòa bình, từ những con đường Trường Sơn đến cánh đồng, bến biển, biên giới..., tất cả được tái hiện bằng một giọng thơ chân thực, giàu cảm xúc.

Tập thơ không chỉ ca ngợi chiến thắng mà còn ca ngợi con người bình dị - những người đã làm nên lịch sử bằng lao động và hy sinh thầm lặng. Chính tình yêu con người và tình yêu đất nước ấy đã làm nên chiều sâu nhân văn cho thơ Trần Nhương. Trong dòng thơ viết về chiến tranh và hậu chiến của văn học Việt Nam, "Gió bồn chồn Giêng Hai" có thể xem như một bản ghi nhớ giàu cảm xúc về một thời đại, nơi vẻ đẹp của con người Việt Nam tỏa sáng trong cả chiến đấu lẫn lao động đời thường.

Nhà thơ Trần Nhương sinh năm 1942, quê Lâm Thao, Phú Thọ. Năm 1965 ông nhập ngũ, vào ngành vận tải quân sự; năm 1979 học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa I; năm 1987 làm Trưởng phòng Văn nghệ NXB Quân đội nhân dân; năm 1993 chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam làm Phó giám đốc Quỹ Văn học rồi Phó ban Quản lý dự án Bảo tàng Văn học Việt Nam; hiện nghỉ hưu. Ông đã xuất bản hơn 20 tác phẩm thơ và văn xuôi; được trao nhiều giải thưởng văn học của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Bộ Quốc phòng, Liên hiệp các hội văn học, nghệ thuật Việt Nam.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

Tập "Hang Hổ" có 14 truyện ngắn, mỗi truyện là một bức tranh vùng cao theo các chủ đề khác nhau nhưng chung một phong cách trữ tình sâu lắng và hiện thực trào tiếu, tưởng như đối lập, xa nhau nhưng thống nhất tạo nên nét riêng ngòi bút Trần Nguyên Mỹ.