Thơ như là con ngựa bất kham

“Em là con ngựa bất kham vừa chạy trốn vừa chạy theo những ám ảnh” - nữ thi sĩ Khương Hà đã viết như thế.

Thiết nghĩ, “con ngựa bất kham” ấy không chỉ là “em”, là chủ thể trữ tình giữa những đam mê, bản năng, cô độc và cuồng điên, mà còn là chính thơ - trong bản chất sâu xa nhất của thể loại: vừa phủ định vừa kiếm tìm, vừa chạy trốn vừa chạy theo những ám ảnh của chính mình.

Thơ là kẻ phá bĩnh cuộc chơi, là tiếng vó ngựa không chịu dừng giữa cánh đồng bằng phẳng của ý niệm.

1. Bất kham với mọi định nghĩa về chính nó

Wislawa Szymborska - nữ thi sĩ người Ba Lan đoạt giải Nobel văn học 1996 - từng viết: “thơ là gì vậy/ với câu hỏi này/ đã có nhiều câu trả lời run rẩy”. Phải, thơ có trước mọi định nghĩa, và luôn vừa ở trong vừa ở ngoài mọi định nghĩa.

Không có khái niệm nào dễ lung lay hơn khái niệm thơ. Khi triết học truy tìm chân lý, thì thơ tìm một cách thơ khác. Thơ chất vấn mọi định nghĩa để liên tục tái định nghĩa. Thơ luôn ở trạng thái trên đường, là cái-đang-là, thách thức, khuấy đảo, gây bất an cho những quán tính chữ.

1wupukgbecx6kzpupjolumdhnfacc4vkvmuofyurufantxq6crj0swtxtutmds12aej.jpg

Mỗi nhà thơ lớn, với phong cách cá nhân và cá tính sáng tạo độc sáng, đều tự định nghĩa thơ theo một cách khác nhau, rồi chính họ lại phá bỏ định nghĩa của mình trong sáng tác kế tiếp. Thơ vì thế tự đẩy mình vào hành trình không đích. Chính trong sự tự do ấy, thơ trở nên bất kham: sống trong chuyển động, trong khai phóng.

2. Bất kham với truyền thống và những khuôn mẫu thẩm mỹ

Thơ bất kham với mọi định nghĩa về chính nó, cũng đồng nghĩa với việc nó bất kham với truyền thống, với “điển phạm”.

Nhà văn, nhà phê bình người Pháp Marcel Proust nói: “Trong nghệ thuật, không có (ít ra trong nghĩa khoa học) người khai tâm, cũng không có người tiền đạo. Tất cả ở trong cá nhân, mỗi cá nhân lại bắt đầu cho riêng mình việc thử nghiệm nghệ thuật hay văn chương”.

Không có con ngựa bất kham nào chịu đi đều bước trong lễ diễu hành. Thơ cũng thế. Nó chỉ thật sự là mình khi tự ý bẻ cong đường đua.

Mỗi thời đại đều có một “mỹ học thống trị”: những chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái đúng. Chẳng hạn, mỹ học của thời đại Thơ Mới là sự công phá thành trì mỹ học của thơ thời kỳ trung đại: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt…” (Lưu Trọng Lư).

Tuy nhiên, sự bất kham với truyền thống không đồng nghĩa với phủ định truyền thống. Nó là quyền được chọn một cách trở về khác. Nhà thơ có thể đối thoại với ca dao, với điển phạm, với những tác phẩm kinh điển, với ký ức văn hóa… nhưng bằng nhịp tim của hiện tại, bằng sự lệch pha đầy chủ ý. Bất kham, vì thế, là năng lực tự vượt thoát khỏi mặc định, chứ không phải phá bỏ mọi nền tảng.

3. Bất kham với ngôn ngữ, ý nghĩa, hiện thực và sự đọc

Nếu thơ bất kham với mọi định nghĩa, thì chính ngôn ngữ - vật liệu của nó - cũng mang trong mình bản năng nổi loạn. Trong văn xuôi, ngôn ngữ ít nhiều phục tùng ý thức; trong thơ, ngôn ngữ cựa quẫy, bất tuân. Chữ trong thơ không chỉ “có nghĩa” mà còn “năng sản”, chuyển nghĩa, trượt nghĩa, thăng hoa nghĩa. Nhà thơ tưởng mình cầm cương ngôn ngữ, nhưng thật ra, nhiều khi lại bị chính ngôn ngữ giật cương, phản bội.

“Tôi không nói được chính xác bằng lời về những điều cảm nhận/ ngôn từ như con tắc kè hoa, có đời sống riêng và không ngừng thay đổi”; “như thể bị khước từ sức mạnh/ trí năng trở nên bất lực/ mọi lý giải/ chống lại điều lý giải” (Trương Đăng Dung). Thơ, vì vậy, là hình thức tự giải phóng của ngôn ngữ, chống lại việc thật thà trích xuất nghĩa, thật thà tải chở thông điệp, thật thà miêu tả hiện thực… Thơ luôn ở ranh giới giữa nghĩa và phi nghĩa, giữa lý trí và bản năng, giữa ý thức và vô thức, giữa gia công và “vụt hiện”, giữa điều đã nói và không nói, giữa thực tại và ảo ảnh, giữa định hình và phân mảnh…

Thơ như là con ngựa bất kham ảnh 2

Ngay cả chính nhà thơ, như đã nói, cũng không làm chủ, không sở hữu trọn vẹn bài thơ của mình. Mỗi bài thơ, một khi ra đời, tự tách khỏi tác giả, trở thành một sinh thể độc lập. Người viết chỉ còn là kẻ chứng kiến bài thơ sống đời sống riêng của nó.

Có nghĩa là, thơ không kết thúc ở cái viết mà bắt đầu lại nơi cái đọc. Và người đọc, khi ấy, cũng không còn ảo tưởng quyền lực từ vị thế “giải mã”, “thông diễn”. Mỗi người đọc chỉ là một kẻ tập cưỡi ngựa khác nhau. Bài thơ mở ra nhiều hướng phi, không hướng nào là độc tôn, duy nhất. Sức sống của thơ nằm ở đó: thơ cưỡi lại người đọc, kéo họ ra khỏi vùng an toàn, ổn định của ngữ nghĩa.

4. Bất kham với những “đại tự sự”

Bất kham với những “định nghĩa”, với “truyền thống”, “điển phạm”, “biểu nghĩa”… là cách mà thơ kháng cự lại những “đại tự sự” để lặng lẽ thực hành những gì vừa sức với mình, cũng là cách để được là chính mình.

Suốt thế kỷ 20, thơ từng mang những sứ mệnh thiêng liêng cao cả: phản ánh thời đại, ca ngợi con người mới, cải tạo thế giới… Nhưng càng mang nhiều thiên chức, thơ càng quá sức, và dần vong thân.

Như con ngựa bất kham, thơ chạy không vì ai, không vì danh nghĩa nào, mà vì chính nhịp đập hoang dại của trái tim nó. Đó không phải là trốn tránh trách nhiệm, mà là trở về với tự do nguyên thủy - tự do của xúc cảm, của hiện hữu, của những cái tôi run rẩy ngơ ngác “trên sa mạc và trong rừng thẳm” đời mình.

Nhìn vào các tập thơ được xuất bản gần đây của các tác giả thế hệ 9x, 2k, thấy rõ tinh thần từ chối “đại tự sự”: “Cô độc nên thơ” (Nam Thi), “Đi tìm những bóng người” (Vĩ Hạ), “Tôi học ca hát như những cuộc vui mình đã chọn” (Đoàn Nguyễn Anh Minh), “Thức cùng tưởng tượng” (Nguyễn Thị Kim Nhung), “Ngồi gỡ tơ trời” (Trương Công Tưởng), “Thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan” (Linh Văn), “Người qua như tiếng rao” (Mai Nhung)… Mỗi tên sách là một tiếng nói cá thể, chân thành, tự thân.

5. Bất kham, đồng nghĩa với đang phi

Thơ, tự nó, là một cuộc chuyển di không hồi kết. Nó chuồi khỏi ngôn ngữ để tìm ngôn ngữ, chuồi khỏi định nghĩa để tái sinh trong một định nghĩa khác, chuồi khỏi người viết để rồi tái cấu trúc trong người đọc bằng một văn bản khác.

Không có đích đến cho con ngựa bất kham. Chỉ có hành trình, và tiếng vó. Mỗi tiếng vó là một nhịp thở của tự do.

Mỗi thời đại, tiếng vó ấy lại vang lên khác đi: khi gấp gáp, khi trầm lắng, khi đứt đoạn, khi hỗn loạn. Nhưng dù thế nào, thơ vẫn trên đường, để nhắc con người rằng: trong mọi trật tự, tiến hóa, luôn có một phần hoang dại chưa thể bị thuần hóa. Và chính phần hoang dại ấy làm nên sức sống, sức quyến rũ của thơ.

Trong một thế giới ngày càng phẳng, thơ vẫn chọn con đường dốc, vì chỉ ở đó, nó mới nghe được tiếng vó mình vang lên chân thật nhất.

Và có lẽ, mọi nỗ lực thuần hóa thơ - bằng quyền lực, bằng hệ hình, bằng giáo điều… - đều bất lực. Thơ bất tuân, chuồi tuột khỏi mọi bàn tay định đoạt, để giữ riêng cho mình một vùng tự do, tự chủ. Như thi sĩ Tô Thùy Yên từng xác quyết: “đầu tôi cứng và trơn/ thượng đế làm sao ngự?”.

Nhà LLPB Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Quỹ đạo kỳ lạ của điện ảnh thế giới 2026

Quỹ đạo kỳ lạ của điện ảnh thế giới 2026

Suốt nhiều năm qua, không quá khó thấy những dự án thống trị phòng vé quốc tế là các bom tấn có kinh phí khổng lồ, được thực hiện bởi những đạo diễn có tên tuổi, sở hữu dàn diễn viên nổi tiếng hay được quảng bá một cách rộng khắp… Nhưng với điện ảnh 2026, một chương đoạn mới đã được mở ra, nơi các khuôn mẫu đã hết “phép màu” và không có gì là chắc chắn cả.

Vẫn trò chuyện với thành phố của đời mình

Vẫn trò chuyện với thành phố của đời mình

Nhà thơ Bằng Việt ở tuổi 85 được trao tặng Giải thưởng lớn của “Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội” năm 2026. Thêm một dấu son để ghi nhận một cuộc đời thi ca gắn bó với mảnh đất ngàn năm văn hiến.

Từ huyền thoại Mã Yên Sơn đến màn ảnh

Từ huyền thoại Mã Yên Sơn đến màn ảnh

Một trong những nguồn cảm hứng để dựng nên bộ phim “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” là những nghi án và truyền thuyết về cái chết của cha con Vua Đinh Tiên Hoàng cùng lăng mộ trên Mã Yên Sơn. Ngọn núi huyền thoại này được xem là “huyệt đế vương”, một trong những danh sơn của cố đô Hoa Lư, Ninh Bình.

Anne Carson và những biên giới mới của văn chương

Anne Carson và những biên giới mới của văn chương

Tối 8/10 (giờ Việt Nam), Viện Hàn lâm Thụy Điển đã vinh danh nhà thơ, nhà viết tiểu luận, học giả văn chương cổ điển và nghệ sĩ thể nghiệm người Canada Anne Carson là chủ nhân mới nhất của giải Nobel Văn chương. Đây là kết quả không quá bất ngờ, bởi không chỉ là một trong hai cái tên được nhắc đến nhiều nhất ngay trước "giờ G", mà bà còn sở hữu di sản sáng tạo vô cùng đồ sộ, được đánh giá cao.

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.