Càng bất ngờ hơn khi 2 bộ phim trên còn có điểm chung là kinh phí thấp và được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung trẻ tuổi trước khi chuyển sang làm phim. Điều đó đã được bảo chứng khi là tuần chiếu thứ 5 liên tiếp tại Mỹ và nhiều nước khác, nhưng “Obsession” vẫn đang ghi nhận thành tích “vô tiền khoáng hậu” khi trở thành bộ phim có doanh thu các tuần sau này thậm chí còn cao hơn cả tuần chiếu đầu tiên.
Chỉ với kinh phí 750.000 USD, được mua quyền phân phối ở mức 15 triệu USD, nhưng tính đến nay tác phẩm đã thu về hơn 200 triệu USD phòng vé toàn cầu. Điều này cũng tương tự với “Backrooms”, khi đây cũng là tác phẩm đã thu về hơn 220 triệu USD chỉ sau 10 ngày ra rạp, trở thành tác phẩm có doanh thu cao nhất của hãng A24, vượt xa “Martin Supreme” (Marty thượng thặng) tranh giải Oscar 2026 cũng như “Everything Everywhere All At Once” (Cuộc chiến đa vũ trụ) thắng giải Phim hay nhất vào năm 2023.
Lý do cho thành công trên đầu tiên không thể không thấy nằm ở kịch bản vô cùng mới lạ của 2 dự án. Được đạo diễn bởi nhà sáng tạo nội dung trên YouTube Curry Barker, “Obsession” xoay quanh câu chuyện của Bear (Michael Johnston đóng chính) - người có cảm xúc đặc biệt với cô bạn thân Nikki (Inde Navarrette thủ vai) nhưng không dám ngỏ lời.
Một ngày nọ, khi đang tìm kiếm quà tặng Nikki, Bear vô tình nhìn thấy một món đồ chơi độc đáo được giới thiệu là sẽ linh nghiệm nếu như bẻ gãy và đọc điều ước bản thân hằng mong. Tuy vậy mỗi người chỉ có quyền ước một lần duy nhất, và mọi hậu quả chỉ có thể khép lại khi người ấy qua đời. Bán tín bán nghi, Bear muốn Nikki trở thành người yêu, nhưng cũng kể từ đó cô đã trở thành một con người khác, khi có những hành vi ma quái, khó hiểu, ám ảnh lên đến cực đoan.
Trong khi đó “Backrooms” lại bắt nguồn từ “truyền thuyết đô thị” có thật, xoay quanh Clark (Chiwetel Ejiofor đóng chính) - ông chủ một cửa hàng nội thất xuống cấp và một kiến trúc sư thất bại. Cảm thấy cuộc sống rơi vào ngõ cụt khi hôn nhân có vấn đề còn sự nghiệp thì lao dốc, anh đã tham vấn tâm lý với Tiến sĩ Mary Kline (Renate Reinsve thủ vai) nhằm tìm lối thoát.
Khi đang ở lại cửa hàng vào ban đêm, Clark đã phát hiện một không gian khác ngay tại tầng hầm - nơi có bức tường có thể xuyên qua và ẩn sau đó là chuỗi mê cung trải dài miên viễn. Nơi đó có những món nội thất bị vứt bỏ xếp cao như núi, chúng được sắp xếp theo nhiều kiểu khác nhau, tạo nên những ảo ảnh rùng rợn. Khi chia sẻ chuyện này với Mary, điều Clark nhận lại là sự hoài nghi, vì vậy anh đã quyết tâm tìm kiếm sự thật. Nhận thấy bệnh nhân đã lâu không còn xuất hiện, Mary đến để kiểm chứng, dẫn đến cô cũng bị kẹt vào không gian này.
Có thể thấy cả 2 bộ phim đều được thực hiện một cách mới lạ với kịch bản thu hút, thay vì chỉ đơn thuần là phim kinh phí cao nhưng mục đích sau cùng chỉ là dọa ma, tạo sự hồi hộp. Đây cũng là lý do giúp “The Substance” (Thần dược) - bộ phim xoay quanh thần dược có thể khiến người khác sống lại tuổi trẻ, và “Sinners” (Tội đồ) - phản ánh vấn đề phân biệt chủng tộc qua hình tượng ma cà rồng, gặt hái được nhiều thành công ở cả Oscar và các rạp chiếu vào các năm trước.
Không dừng ở đó, việc được sản xuất với kinh phí thấp (dưới mức 1 triệu USD) cũng giúp “Obsession” và Backrooms” trở nên “thân thiện” với nhà sản xuất và đơn vị phân phối, khi chi phí họ phải chi ra là không quá lớn, trước thực tế ngành công nghiệp điện ảnh ở Hollywood đang phải thắt chặt chi tiêu trước sự cạnh tranh của các nền tảng streaming như Netflix, Hulu… nhưng nếu thành công, lại có doanh thu hơn gấp nhiều lần. Và dù có sự tham gia của các minh tinh hàng đầu (như Renate Reinsve - người 3 lần liên tiếp có phim thắng lớn tại LHP Cannes) hay không, thì không thể phủ nhận vai trò đạo diễn của 2 bộ phim trên đều rất ấn tượng.
Nhưng quan trọng nhất là khán giả trẻ vẫn luôn khao khát có những tác phẩm và những đạo diễn thể hiện được góc nhìn, tiếng nói và “gu” thưởng thức của thế hệ mình. Không phải không có lý do mà hai phim thắng lớn đều do những tên tuổi đã nổi tiếng trước đó trên YouTube thực hiện. Với “Backrooms”, nhà làm phim 20 tuổi Kane Parsons đã theo sát “truyền thuyết đô thị” với nhiều series do mình tạo ra, thu hút hàng trăm triệu lượt xem từ năm 2022 trước khi nhận được “cái gật đầu” của hãng A24 để phát triển thành tác phẩm điện ảnh. Điều này dẫn đến tác phẩm trước khi ra rạp đã có sẵn lượng khán giả nhất định, vì vậy việc được ủng hộ là không quá khó hiểu.
Để rồi từ một bộ phim với những mê cung màu vàng trải dài và tiếng đèn huỳnh quang o o, phả ra ánh sáng lạnh lẽo, Parsons đã tái hiện lại những gì xảy ra trong tiềm thức con người trước những tổn thương, chấn động ấu thời. Trong khi đó “Obsession” lại có những chỉ dấu văn hóa gần gũi với người trẻ, từ cuộc sống áp lực, cảm xúc không thể giãi bày… dẫn đến tìm kiếm sự an ủi từ những thực hành mang màu sắc tâm linh như trào lưu manifest hay bài tarot… Điều này khiến người trẻ tuổi cảm thấy có sự kết nối, kéo họ đến rạp.
Ngoài ra, một yếu tố khác không thể bỏ qua là sự thay đổi trong cách khán giả trẻ tiếp nhận điện ảnh. Trong thời đại mạng xã hội, người xem ngày càng bị thu hút bởi những câu chuyện có thể liên tục được thảo luận, giải mã và lan truyền sau khi rời khỏi rạp chiếu, thay vì chỉ tạo ra những cú hù dọa tức thời. Và có thể thấy “Backrooms” đã làm thành công được điều này, bằng tính ẩn dụ của mê cung và những hình tượng ma quái đậm tính phân tâm học, giúp kéo dài “vòng đời” của chính tác phẩm.
Không dừng ở đó, việc hoạt động trên YouTube vốn liên tục đòi hỏi sự thu hút của khán giả cũng giúp các nhà làm phim hiểu được thuật toán, biết cách xây dựng bí ẩn, duy trì sự tò mò và tạo nên những chi tiết dễ lan truyền. Đây là lợi thế mà không phải nhà làm phim chuyên nghiệp được đào tạo chính quy nào cũng dễ dàng có được.
Có thể thấy việc “đá chéo sân” của những nhà sáng tạo nội dung đã tạo ra những tác phẩm mới mẻ, tiềm năng, như một làn gió mới thổi vào Hollywood già cỗi và đang trải qua những thay đổi khốc liệt. Tuy vậy việc có giữ được sức hút sau những bộ phim đầu tay hay không vẫn còn là câu hỏi lớn, trước thực tế nội dung YouTube và điện ảnh chuyên nghiệp có những đòi hỏi, yêu cầu và cách thực hiện khác nhau.
Quả thật những thách thức ấy có thể nhìn thấy ngay tại nước ta, khi vài năm trở lại đây, có không ít YouTuber, TikToker chuyển sang làm phim. Kết quả cho thấy có những trường hợp “thắng lớn” ở phim đầu tay do sự tò mò của khán giả và sự gần gũi với các đề tài họ thường khai thác, nhưng bước sang các dự án tiếp theo với chủ đề khác đi, thì những điểm yếu bắt đầu lộ ra, dẫn đến thất bại là không thể tránh. Từ đây, thành công ban đầu như đã nói trên là rất đáng khích lệ, nhưng để duy trì được phong độ ấy là một bài toán không hề dễ dàng và cần thời gian để chứng minh thêm.