Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Giữa đại ngàn Trường Sơn, câu chuyện giữ nghề của ông Hồ Xuân Lim không chỉ gói gọn bên bếp lửa nhà sàn với đôi tay tài hoa. Để những chiếc gùi, chiếc rổ nên vóc nên hình và mang đậm hồn cốt Cơ Tu, người nghệ nhân phải đánh thức rừng già từ tờ mờ sương, lặn lội tìm chọn từng đốt tre, dây mây già đúng độ rồi gùi nặng mang về. Thấm đẫm mồ hôi qua từng nhát chẻ, đường vót tỉ mẩn, mỗi sản phẩm ra đời là sự kết tinh của nỗi nhọc nhằn và tình yêu bền bỉ với di sản cha ông.

anh-5.jpg
Ông Lim (giữa) nói về giá trị của gùi 3 thân - một sản phẩm độc đáo của người Cơ Tu

Khi những giọt sương đêm vẫn còn đọng nặng trĩu trên tán lá rừng già, ông Hồ Xuân Lim đã trở dậy. Ở cái tuổi thất thập, bước chân ông vẫn chắc nịch bám vào đất đá, ngược dốc tìm về phía những bụi tre, khóm mây sâu trong hẻm núi. Ông bảo, tre nứa để đan gùi không thể chọn bừa. Phải là những cây tre mọc ở hướng đón gió để thớ tre dẻo dai, phải đủ tuổi để không bị mọt mối, nhưng cũng không được quá già vì sẽ giòn, dễ gãy. Ánh mắt ông nheo lại, ngước nhìn lên ngọn tre, như đang trò chuyện, đang ướm thử sức sống của cây rừng trước khi hạ rựa.

Mang được tre về đến nhà sàn là cả một chặng đường dài, lưng áo ướt đẫm mồ hôi, nhưng công đoạn "luyện" tre sau đó mới thực sự thử thách lòng kiên nhẫn. Ngồi bên hiên nhà, nơi ánh sáng mặt trời vừa đủ rọi qua kẽ lá, ông Lim bắt đầu chẻ, vót. Lưỡi rựa trong tay ông lướt đi nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, tách từng thanh nan mỏng tang, đều tăm tắp.

Ông tâm sự, giọng trầm đục hòa lẫn tiếng gió rít qua khe cửa: "Cái nghề này lạ lắm, nó chọn người chứ người không chọn được nó đâu. Tôi theo cha, theo ông nội học nghề từ năm 15 tuổi. Ngày ấy, rừng còn rậm rạp, tre nứa bạt ngàn. Nhưng để làm ra được cái gùi đúng chất Cơ Tu thì tre nhiều thôi chưa đủ, phải có cái tâm thật tĩnh. Làm gùi cho đàn ông đi rừng, đi săn lại càng khó. Nó phải đúng dáng, đúng số ngăn để đựng thuốc, đựng cơm, đựng cái rựa. Sai một li, cái gùi nó méo, nó không có hồn, người đi rừng đeo vào thấy nặng cái vai, buồn cái bụng".

anh-1.jpg
Ông Lim chọn những cây tre mọc ở hướng đón gió để thớ tre dẻo dai; phải đủ tuổi không bị mọt mối,
nhưng cũng không được quá già vì sẽ giòn và dễ gãy.

Theo lời ông Lim, để hoàn thiện một chiếc gùi đúng chuẩn, người thợ phải trải qua những ngày tháng ròng rã, có khi mất cả ba tháng trời. Từ lúc phơi sương phơi nắng cho nan đủ độ dẻo, đến công đoạn khó nhất là lên khung và tạo độ cong. Đó là lúc người thợ phải dồn hết lực từ đôi tay và sự tinh tế của khối óc để uốn nan. Nếu làm không khéo, tre sẽ gãy, hoặc sản phẩm làm ra sẽ xộc xệch, không chịu được mưa nắng đại ngàn. Mỗi sợi nan đan vào nhau không chỉ là kỹ thuật, mà là sự tiếp nối của ký ức, của những phong tục tập quán đã ăn sâu vào máu thịt đồng bào.

Vừa thoăn thoắt đan những nan tre vào nhau, ông Lim vừa bộc bạch nỗi niềm đau đáu. Ông sợ mai này khi mình về với ông bà tổ tiên, tiếng lách cách đan lát trong bản sẽ thưa dần rồi tắt hẳn. Nỗi sợ ấy không phải là không có cơ sở khi lớp trẻ bây giờ dường như bị cuốn theo ánh đèn phố thị, những vật dụng nhựa rẻ tiền tràn lan khiến nghề đan lát trở nên lẻ loi. Nhưng may mắn thay, ngọn lửa nghề trong ngôi nhà nhỏ của ông vẫn chưa bao giờ tắt. Nó được truyền sang những người trẻ tâm huyết như anh Nguyễn Đình Thông.

Ngồi bên cạnh người thầy của mình, anh Thông cũng đang miệt mài với từng mối đan. Nhớ lại những ngày đầu chập chững học nghề, anh không giấu được nụ cười ngượng nghịu xen lẫn tự hào. "Nói thật, lúc mới bắt đầu, tôi nản lắm", anh Thông trải lòng, đôi mắt ánh lên vẻ chân thành. "Tre thì sắc, sơ sẩy một chút là đứt tay chảy máu. Vót mười thanh thì hỏng đến tám, đan vào rồi lại phải tháo ra vì lệch lạc. Nhìn ông Lim làm thấy nhẹ nhàng như múa, mà mình cầm vào thì cứng ngắc. Nhiều đêm ngồi nhìn đống nan tre ngổn ngang, tôi đã định bỏ cuộc. Nhưng rồi nhìn đôi tay thầy chai sần vẫn kiên nhẫn chỉ dạy từng chút một, tôi lại thấy mình không được phép dừng lại".

anh-6.jpg
Vợ ông Lim giới thiệu các sản phẩm từ tre nứa cho học sinh đến trải nghiệm.

Bước ngoặt đến với anh Thông là khi hoàn thành chiếc gùi đầu tiên. Dù đường nét chưa thật sự sắc sảo như của thầy, nhưng cảm giác tạo ra một vật phẩm mang hình hài văn hóa dân tộc khiến anh vỡ òa sung sướng. Anh hiểu ra rằng, ông Lim không chỉ dạy anh kỹ thuật đan, mà đang dạy anh cách trân trọng cội nguồn.

Trong bối cảnh nhiều nghệ nhân thường giấu nghề, giữ bí quyết làm "vốn riêng", thì sự hào sảng và tận tâm của ông Lim là điều khiến anh Thông cảm động nhất. "Thầy Lim không giấu tôi bất cứ điều gì. Thầy bảo, thầy già rồi, cái gì biết thì phải truyền hết lại, để sau này con cháu mình nhìn cái gùi còn biết đó là của người Cơ Tu. Bài học lớn nhất tôi học được không phải là kỹ năng vót nan, mà là cái tâm của người làm nghề", anh Thông chia sẻ.

Câu chuyện giữa họ không cần quá nhiều lời nói, chỉ có tiếng tre nứa va vào nhau, tiếng hơi thở đều đặn hòa quyện vào tiếng đêm của núi rừng. Từ đôi tay gân guốc của người đi trước, kỹ thuật và tình yêu nghề đang âm thầm chảy sang đôi tay rắn rỏi của người đi sau. Đó không đơn thuần là sự chuyển giao kỹ năng lao động, mà là sự tiếp nối của một mạch nguồn văn hóa bền bỉ.

Rời căn nhà, tôi vẫn ngoái lại nhìn ánh lửa hắt ra từ khe cửa. Ở đó, ông Lim và anh Thông vẫn đang miệt mài giữ hồn cho tre, giữ hồn cho bản làng. Những chiếc gùi, chiếc rổ được tạo ra từ đôi tay ấy sẽ lại theo chân người Cơ Tu lên rẫy, xuống suối, hiện diện trong từng nếp sống sinh hoạt thường ngày. Và tôi tin, chừng nào còn những người nặng lòng như ông Lim, chịu khó như anh Thông, thì chừng đó, hồn cốt của đại ngàn Trường Sơn vẫn sẽ còn xanh mãi, bất chấp thời gian và sự đổi thay khắc nghiệt của cuộc đời.

Võ Việt

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.