Từng là mơ ước của nhiều nghệ sĩ, sắp tới, việc được vinh danh tại giải Grammy với các tên tuổi trong nước nói riêng và trên toàn châu Á nói chung không còn xa vời, khi mới đây Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Hoa Kỳ cho biết từ lần trao giải thứ 69 (năm 2027), hạng mục “Trình diễn nhạc Pop châu Á xuất sắc nhất” sẽ được bổ sung vào hệ thống giải thưởng.
nghệ sĩ solo đầu tiên của Hàn Quốc trình diễn tại Grammy.
Đây là điều chỉnh mới nhất của giải thưởng âm nhạc lớn nhất hành tinh, nhằm tôn vinh “sự xuất sắc về nghệ thuật trong các màn trình diễn nhạc Pop có nguồn gốc từ (hoặc được công nhận rộng rãi tại) thị trường châu Á, bao gồm (nhưng không giới hạn) ở K-pop (âm nhạc Hàn Quốc), J-pop (âm nhạc Nhật Bản) và C-pop (âm nhạc Trung Quốc), với việc sử dụng có ý nghĩa một hoặc nhiều ngôn ngữ châu Á”. Chia sẻ về quyết định này, Harvey Mason Jr. - Giám đốc điều hành giải Grammy - cho biết: “Nhạc Pop châu Á là một trong những “thế lực” quan trọng và nổi bật nhất trong ngành công nghiệp âm nhạc toàn cầu hiện nay. Tác động của nó đã được khẳng định và trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển, định hình văn hóa cũng như âm nhạc trên toàn thế giới. Khi tầm ảnh hưởng của thể loại này ngày càng lớn mạnh, các thành viên và Ban quản trị Grammy cảm thấy đây là thời điểm thích hợp để tạo ra một hạng mục phản ánh chính xác hơn quy mô, tính nghệ thuật và tác động toàn cầu của dòng chảy này”.
Nhận định nói trên có thể nói đã mô tả chính xác bức tranh toàn cảnh trong những năm qua, khi dấu ấn châu Á xuất hiện ngày càng nhiều hơn trên bản đồ âm nhạc đương đại. Chẳng hạn, BTS và BLACKPINK của Hàn Quốc đã liên tục tạo nên những cơn sốt lớn, đưa họ trở thành một trong những nhóm nhạc được quan tâm hàng đầu. Tại giải Grammy, BTS đã nhiều lần trình diễn và được đề cử, qua đó khẳng định tầm ảnh hưởng đại chúng. Trong khi với sự nghiệp solo, 4 thành viên của nhóm BLACKPINK cũng rất được ngóng đợi, dần dần xóa nhòa yếu tố bản địa để khẳng định bản thân như những ngôi sao toàn cầu. Sức hút châu Á còn lớn đến nỗi ban nhạc KATSEYE thành lập dựa trên mô hình K-Pop đã được đề cử “Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất” trong năm 2026 - một trong những hạng mục quan trọng nhất tại giải Grammy. Không chỉ số lượng, năm vừa qua cũng chứng kiến những bước tiến lớn của K-Pop, khi bản hit “Golden” của phim “K-pop Demon Hunters” trở thành ca khúc từ xứ sở kim chi đầu tiên giành được kèn vàng Grammy…
Ngoài K-Pop, hiện nay có không ít nghệ sĩ châu Á tạo được những bước ngoặt lớn và được yêu thích trên toàn thế giới, do đó đây là thay đổi vô cùng cần thiết như Giám đốc điều hành giải thưởng nhận định: “Nhạc Pop châu Á mang đậm bản sắc riêng biệt thông qua âm nhạc, phong cách trình diễn cũng như hình ảnh”. Có thể kể đến BINI - nhóm nhạc nữ Philippines xuất hiện bùng nổ và gây chú ý tại lễ hội âm nhạc Coachella vừa qua. Đến từ Nhật Bản không thể không kể đến Fujii Kaze với chất Alternative Rock phóng khoáng, tự do và Rock Điện tử đặc trưng của bộ đôi YOASOBI. Đến từ Trung Đông có thể kể đến Elyanna - nghệ sĩ người Palestine ghi dấu ấn khi góp mặt trong album nhạc của kỳ World Cup năm nay. Cuối cùng, Bollywood của Ấn Độ phát triển từ lâu cũng được nhìn nhận là thị trường tiềm năng có thể mang về kèn vàng trong tương lai gần...
Tuy vậy, đi kèm với sự ghi nhận cần thiết, tiêu chí giải thưởng cũng đang tạo ra nhiều luồng tranh cãi. Một trong số đó là hạng mục này hiện đang quá nhỏ, trong khi âm nhạc châu Á là rất đa dạng. Với một lục địa là nơi sinh sống của 4,7 tỉ người thuộc 48 quốc gia và sở hữu hàng nghìn nền âm nhạc bản địa khác nhau, việc chỉ có một hạng mục duy nhất được cho là quá ít. Và theo “quy luật” thường thấy, người giành chiến thắng sẽ thường là các quốc gia có nền công nghiệp ghi âm phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Nhưng ngược lại, bởi việc yêu cầu ca khúc phải được thể hiện chủ yếu bằng ngôn ngữ bản địa, mà các nghệ sĩ lớn ở 3 quốc gia nói trên cũng có khả năng… ngậm ngùi trắng tay, bởi có một thực tế không thể phủ nhận là trong bối cảnh ngày nay, rất nhiều nghệ sĩ đã chọn tiến ra thế giới bằng ngôn ngữ chung là tiếng Anh như điều kiện tiên quyết.
Chẳng hạn khi mới xuất hiện, cả BTS và BLACKPINK đều thể hiện các sản phẩm bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng trong 2 album mới là “ARIRANG” và “DEADLINE” ra mắt hồi đầu năm nay, cả hai đều dùng tiếng Anh trong phần lớn thời lượng, hợp tác cùng các nhà sản xuất phương Tây nổi tiếng, cho thấy quyết tâm khẳng định vị thế ở thị trường mới. Do đó, việc yêu cầu sản phẩm phải được thể hiện bằng tiếng bản địa ít nhiều sẽ thu hẹp cơ hội của các nghệ sĩ dẫn đầu nếu vẫn trung thành với con đường trên. Vì vậy, thay vì đóng vai trò là hạng mục chung để tôn vinh bất kỳ nghệ sĩ có nguồn gốc châu Á nào, thì tiêu chí hiện nay dường như được thiết kế để xướng tên các sản phẩm đậm tính bản địa hơn bao giờ hết, như các bài hát K-Pop hát bằng tiếng Hàn, các sản phẩm J-pop thể hiện bằng tiếng Nhật, các ca khúc C-pop trình diễn bằng tiếng Quan thoại hoặc tiếng Quảng Đông. Đó còn chưa kể đến những quốc gia như Philippines, Thái Lan… có tiếng Anh được dùng song song với tiếng mẹ đẻ, cũng đồng nghĩa với khó có khả năng sẽ được vinh danh.
nhưng chưa khi nào chạm gần đến kèn vàng sau cùng.
Tuy vậy điều này không quá khó hiểu, bởi cho đến cùng, Grammy vẫn là giải thưởng âm nhạc của Mỹ, do đó các tác phẩm châu Á sử dụng tiếng Anh nhằm hướng đến thị trường này sẽ được xếp vào các hạng mục tranh giải chính mà không phân theo nguồn gốc, khu vực. Không dừng ở đó, với nền công nghiệp giải trí phát triển và thường được coi là trung tâm toàn cầu, Grammy không ngừng cho thấy sự toàn cầu hóa, nhưng cũng không thể chia nhỏ hạng mục hơn nữa, bởi đây không phải giải thưởng đại diện cho cả quốc tế. Thậm chí dù khu vực Latinh rất gần với Mỹ, nhưng nhạc Latinh vẫn bị giới hạn số hạng mục, thay vào đó có riêng hệ thống Latinh Grammy được trao song song…
Cũng bởi tình thế tiến thoái lưỡng nan này mà nhiều người cho rằng cho đến sau cuối, hạng mục này được lập ra như một cách thức nhằm cản bước các nghệ sĩ châu Á chủ lưu giành được chiến thắng, ít nhiều mang tính phân biệt chủng tộc. Đơn cử trong các năm qua, người hâm mộ BTS liên tục chỉ trích giải thưởng lợi dụng sức ảnh hưởng của nhóm nhạc thần tượng nhằm thu hút rating bởi có lượng người yêu thích đông đảo, nhưng chưa bao giờ trao “kèn vàng” cho họ. Do đó, dưới góc nhìn của khán giả, hạng mục này như giải thưởng phụ để ủi an các nghệ sĩ châu Á, từ đó “thuận lợi” hơn trong việc phớt lờ họ ở các giải thưởng chính. Tuy vậy thì cáo buộc này vẫn khá cảm tính, bởi một sản phẩm có thể gửi tranh giải ở nhiều hạng mục, miễn rằng nó đủ chất lượng. Vì vậy ở khía cạnh này, việc bổ sung giải thưởng mới thậm chí còn là một sự ghi nhận có phần cần thiết khi “tỉ lệ chọi” ở các hạng mục quan trọng là đặc biệt lớn.
Không thể phủ nhận việc có thêm giải thưởng “Trình diễn nhạc Pop châu Á xuất sắc nhất” là sự ghi nhận tương đối hợp lý, nhưng vẫn còn đó khá nhiều hạn chế trong tiêu chí xét giải. Thiết nghĩ trong thời điểm giao thoa hướng đến toàn cầu, ngôn ngữ bản địa hay tiếng Anh chỉ là phương tiện chứ không phải điều kiện thiết yếu, bởi tinh thần vẫn là điều quan trọng nhất. Đó cũng là lý do mà Giám đốc điều hành giải Grammy để ngỏ quan điểm: “Trong tương lai, chúng tôi mong muốn có thể ghi nhận nhiều hơn nữa các sáng tạo trong cộng đồng âm nhạc châu Á rộng lớn và đầy đa dạng”. Với việc âm nhạc Việt Nam vẫn đa phần sử dụng tiếng mẹ đẻ và xu hướng đưa yếu tố truyền thống, dân gian vào âm nhạc hiện đại, thay đổi mới này có thể nói là động lực mới cho các nghệ sĩ trẻ, từ đó giới thiệu nhiều hơn nữa sáng tạo của mình ra với toàn cầu.