Anh hùng liệt sĩ Đặng Bá Hát

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

1.Chúng tôi - những cựu chiến binh (CCB) tìm về ngôi nhà tình nghĩa của gia đình Anh hùng liệt sĩ Đặng Bá Hát ở số 126, khu Cao Thắng 2a, phường Hà Lầm. Con gái ông, chị Đặng Thị Huệ, đón mọi người bằng đôi mắt đã hoe đỏ từ lúc nào. Chị khẽ nói: "Hôm nay đúng ngày bố em hy sinh - 12/7/1972. Em xin mời các bác lên trận địa, thắp cho bố và các đồng đội một nén hương...".

Chiếc xe chầm chậm rời con đường mang tên Đặng Bá Hát, theo con đường dốc uốn lượn dẫn lên đỉnh núi Ba Đèo. Hai bên đường, những triền đồi ngập nắng hè. Từ trên cao, tuyến cáp treo nối đôi bờ Cửa Lục lững lờ trôi giữa nền trời trong xanh. Vòng quay Mặt Trời chầm chậm xoay trên đỉnh núi. Tiếng cười của du khách hòa vào tiếng gió từ Vịnh Hạ Long mang theo vị mặn của biển. Khó ai có thể hình dung rằng ngay dưới những công trình du lịch hiện đại này từng là một trong những trận địa pháo phòng không ác liệt nhất của vùng than. Hơn nửa thế kỷ trước, nơi đây chỉ có những cánh rừng thông, mỏm đồi lá ngụy trang ẩn giấu hầm hào, ụ súng và 4 khẩu pháo cao xạ 37mm ngày đêm hướng nòng ra phía biển, sẵn sàng đánh trả những tốp máy bay Mỹ từ Hạm đội 7 lao vào đánh phá khu công nghiệp mỏ Hồng Gai.

di-anh-anh-hung-liet-si-dang-ba-hat.jpg
Liệt sĩ Đặng Bá Hát

CCB Phạm Khắc Định, nguyên sĩ quan pháo cao xạ từng nhiều năm chiến đấu bảo vệ vùng than, nhìn những công trình hạ tầng du lịch mới xây rồi chậm rãi chỉ tay: "Mỏm đồi này là trận địa Đại đội 34. Phía thấp bên kia là Đại đội 8 pháo 37mm, của Tiểu đoàn 241. Khu chùa chiền mới xây là trận địa súng máy phòng không 14,5mm của tự vệ nhà máy Cơ khí Hồng Gai...". Ông không cần đến bản đồ. Sau hơn nửa thế kỷ, từng mỏm đồi, từng hướng bay của máy bay Mỹ, từng vị trí trận địa vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính già.

Chính từ những ngọn đồi ấy, những người thợ mỏ bình dị đã viết nên một bản hùng ca bằng lòng quả cảm và máu của mình, góp phần bảo vệ vùng than, giữ vững mạch sống của hậu phương lớn miền Bắc trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tháng 7/1972, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Vùng than Quảng Ninh là một trong những trọng điểm địch đánh phá hủy diệt. Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí... ngày nào cũng rung chuyển bởi bom đạn. Tất cả các đô thị vùng than là chiến trường, người thợ-người chiến sĩ không còn ranh giới.

2.Đặng Bá Hát, sinh năm 1936 tại xã Thống Kênh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (cũ), ông từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Hòa bình lập lại, ông đến vùng than lập nghiệp, trở thành công nhân rồi cán bộ chỉ huy lực lượng tự vệ của khu mỏ Quảng Ninh. Cuộc đời người công nhân ấy tưởng sẽ gắn trọn với tiếng máy, tiếng búa nơi khai trường, nhưng chiến tranh một lần nữa buộc ông cầm súng. Lần này, ông đứng bên những cỗ pháo cao xạ 37mm, chỉ huy Đại đội 34 bảo vệ bầu trời Hồng Gai.

Trận địa của đơn vị được bố trí trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, vị trí có thể quan sát toàn bộ khu vực thị xã Hồng Gai (cũ). Từ đây, mọi tốp máy bay Mỹ từ ngoài Vịnh Bắc Bộ vừa xuất hiện đều nằm trong tầm theo dõi của các trinh sát. CCB Vũ Trọng Hiếu, nguyên pháo thủ Đại đội 34, nay mái đầu đã bạc trắng nhưng ký ức về những ngày chiến đấu vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhớ rành rọt từng chi tiết: đơn vị có 4 khẩu pháo cao xạ 37mm, 48 cán bộ chiến sĩ, trong đó có 6 nữ chiến sĩ làm nhiệm vụ thông tin và trinh sát. Ông kể: "Chúng tôi là thợ mỏ, chiến tranh thì cầm súng. Khi chiến đấu, chẳng còn ai nghĩ mình là công nhân hay bộ đội nữa. Chỉ biết phải giữ cho được vùng trời quê hương". Chính tinh thần ấy đã làm nên sức mạnh đặc biệt của thế trận phòng không nhân dân trên vùng than năm ấy.

Con cháu các liệt sĩ dâng hương tại trận địa của cha ông năm xưa.

Con cháu các liệt sĩ dâng hương tại trận địa của cha ông năm xưa.

Giữa trưa 12/7/1972, tiếng kẻng báo động làm từ vỏ bom Mỹ bất ngờ vang lên dồn dập giữa đỉnh Ba Đèo. Các khẩu đội nhanh chóng vào cấp một sẵn sàng chiến đấu. Trong hầm thông tin, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Hường áp chặt tai vào máy vô tuyến, liên tục tiếp nhận thông tin mục tiêu từ mạng ra-đa của Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ phía biển, những chấm đen nhỏ dần hiện rõ trên nền trời xanh. Chỉ ít phút sau, từng tốp máy bay phản lực Mỹ đã lao tới. Đại đội trưởng Đặng Bá Hát tay cầm cờ lệnh, giọng dõng dạc vang lên giữa tiếng động cơ phản lực: "Các khẩu đội... bám sát mục tiêu!". 4 khẩu pháo đồng loạt chuyển hướng. Mệnh lệnh "Bắn!" vừa dứt, 4 khẩu pháo đồng loạt khai hỏa. Tiếng nổ dội rung cả đỉnh Ba Đèo. Những vệt lửa đỏ xé bầu trời lao thẳng vào đội hình máy bay Mỹ đang bổ nhào xuống đô thị Hồng Gai.

Từ Hà Lầm, Hà Tu, Bãi Cháy, từ các trận địa của mỏ, của bộ đội và từ những khẩu súng máy phòng không trên các tàu hải quân ngoài Vịnh Hạ Long, tất cả hợp thành một bức tường lửa nhiều tầng, nhiều lớp đan kín bầu trời. Địch mở đợt tiến công dữ dội hơn. 38 chiếc máy bay Mỹ chia thành hai mũi. Một mũi đánh vào khu vực Hà Lầm, mũi còn lại nhằm bến phà Bãi Cháy - nơi 2 con phà chở hàng trăm người dân và phương tiện đang qua sông. Đại đội trưởng Đặng Bá Hát hiểu rằng nếu để tốp máy bay ấy ném bom, bến phà sẽ trở thành biển lửa. Ông lao khỏi hầm chỉ huy. Giữa tiếng bom rít và khói đạn mịt mù, lá cờ lệnh vẫn phấp phới trên tay người chỉ huy. Ông dõng dạc hô lớn: "Bám sát mục tiêu bay thấp! Lấy núi Bài Thơ làm chuẩn!". Ngay lập tức, 4 khẩu pháo đồng loạt đổi hướng. Loạt đạn thứ hai vươn lên đón đầu đội hình F-4H. Một chiếc trúng đạn, ánh lửa lóe lên nơi cánh trái. Chiếc máy bay chao đảo hướng ra phía Cửa Giữa rồi bốc cháy dữ dội, lao xuống mặt nước Vịnh Hạ Long.

Chiến sự về chiều càng khốc liệt, trận địa mịt mùng khói bom đạn, xăng dầu cháy từ đô thị dưới chân đồi bốc lên. Khói bụi che khuất tầm nhìn, 2 chiếc A-6 từ phía rừng Hoành Bồ bay thấp tập hậu, ném 4 quả bom bi mẹ chứa hàng nghìn quả bom bi con bung ra, bao trùm đỉnh 104 của dải đồi Ba Đèo. Cả đỉnh Ba Đèo rung chuyển trong biển lửa.

Khi tiếng bom lắng xuống, những người còn sống lao đi tìm đồng đội. Khung cảnh khiến ai cũng nghẹn lại. Trận địa tan hoang, loang vết máu, những khẩu pháo bị hư hỏng nặng. Đại đội trưởng Đặng Bá Hát đã anh dũng hy sinh. Ông ngã xuống ngay trên miệng hầm chỉ huy, trong tư thế vẫn hướng về phía biển - nơi những chiếc máy bay Mỹ đi rồi còn để lại hậu quả đau thương. Khẩu đội trưởng Lê Minh Duật cùng các chiến sĩ Võ Như Côi, Nguyễn Xuân Nức và Hoàng Thí Sáng cũng vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh núi Ba Đèo. 23 cán bộ, chiến sĩ khác bị thương. Đặng Bá Hát khi ấy 36 tuổi. Ở căn nhà nhỏ nơi khu phố Mới, người vợ trẻ Đặng Thị Mát cùng 4 người con, một trai ba gái, từ đó lớn lên bằng ký ức về người cha.

Trước lúc ra về, chị Đặng Thị Huệ lặng lẽ đặt bó cúc vàng xuống triền cỏ. Khói hương mỏng manh bay trong gió biển. Người con gái ngày nào mất cha khi còn thơ dại, nay mái tóc đã điểm bạc, đứng rất lâu ánh mắt xa xăm. Chị khẽ nói, như nói với chính người cha của mình: "Bố ơi... hôm nay các bác lại lên thăm bố...". Không ai cầm được nước mắt, chiều Ba Đèo vẫn ngập nắng, Vịnh Hạ Long vẫn xanh như chưa từng có chiến tranh, biết bao người thợ mỏ cầm súng đã hòa vào từng thớ đất để giữ bình yên cho vùng than.

Vũ Phong Cầm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.