Hoàng hôn đã buông xuống từ lâu. Bóng tối bò qua bãi bồi, len lỏi qua những khu vườn nhà dọc bờ sông, rồi phủ dần lên tất cả. Căn nhà cuối xóm cũng bị bóng tối bủa vây, bịt bùng. Gió mang theo mùi phù sa ngai ngái và tiếng nước vỗ ì oạp vào mấy cây cọc gỗ ven bờ. Trong nhà Lâm, ngọn đèn dầu đang cháy leo lét.
Lâm ngồi trước chiếc bàn gỗ bạc màu với chai rượu đã mở nắp. Trên vách, cái bóng của anh đổ dài, méo mó theo ánh đèn chập chờn, như có một người khác đang ngồi đối diện. Anh nâng chén, giọng nhừa nhựa:
- Uống đi!
Cái bóng im lặng. Lâm cười nhạt:
- Lại vậy nữa! Lúc tao cần nghe... thì mày câm như hến là sao?
Anh uống cạn chén rượu. Men cay chạy xuống cổ họng, nóng rát.
Ngoài sân, mấy tàu cau khô cọ vào nhau xào xạc. Thời gian của đêm trôi qua chậm và buồn quá. Lâu nay, khi có rượu vào là Lâm lại nhớ về quãng đời cũ của mình. Quãng đời mà trong căn nhà ba má để lại cho Lâm, anh còn nghe tiếng ho khúng khắng của người vợ ốm yếu, hay quãng đời sau khi vợ mất đi, Lâm chỉ còn nghe tiếng chân chạy lạch bạch ngoài sân của thằng Tâm.
Ngày Lâm dắt vợ về chung sống, cả hai nghèo lắm. Đã ngoài ba mươi tuổi hết rồi, thương nhau thì về ở cùng nhau chứ tiền đâu mà cưới hỏi. Sau khi sinh thằng Tâm được vài tháng, vợ anh đổ bệnh nặng. Ba má hai bên đều đã mất, cũng chẳng biết cậy nhờ ai. Lâm vừa phải đi làm thuê, vừa tự tay chăm sóc vợ con. Ban đầu, chỉ là những cơn ho kéo dài. Rồi sau, chị ho nhiều hơn và xuất huyết. Nhà không có tiền chữa trị nên người vợ cứ héo hon dần đi, sự sống lay lắt như ngọn đèn trước gió. Những ngày cuối đời, chị thường nằm trên chiếc giường tre sát cửa sổ, đôi mắt hõm sâu nhìn ra bờ sông lạnh vắng. Có đêm, sau cơn ho rũ rượi, đầy máu, chị nắm tay chồng, giọng đứt quãng:
- Có cực mấy... anh cũng... ráng nuôi con... nên người... nghen!
Lúc ấy, Tâm còn đỏ hỏn, nằm trong cái nôi tre gần đó, ọ ẹ khóc. Nhìn ánh mắt tha thiết của vợ, Lâm chỉ biết gật đầu. Lòng anh rối bời những xót thương với âu lo.
Một buổi sáng đầu mùa mưa, người vợ ra đi, bỏ lại đứa con thơ dại cho anh. Lúc ấy, Lâm nghèo đến mức không mua nổi chiếc quan tài tốt cho vợ. Tiền chôn cất, lấy từ khoản tiền hàng xóm đi điếu và anh phải vay thêm mới đủ trang trải. Chiều hôm đó, sau khi chôn cất vợ, Lâm ôm con cho ngủ. Nhưng, thằng bé khát sữa, khóc suốt. Nó cứ dụi đầu vào ngực cha, cái miệng chóp chép tìm hơi sữa đã không còn nữa. Nhìn con, Lâm đứt từng khúc ruột. Sau, nhờ một chị hàng xóm mới sinh, nhiều sữa, cho bú no, thằng bé mới ngủ ngon lành.
Từ đó, Lâm thành người đàn ông sống cảnh gà trống nuôi con. Anh học cách pha sữa bằng đôi tay vốn chỉ quen kéo lưới và làm thợ hồ. Có những đêm Tâm sốt mọc răng, anh luống cuống bế con đi qua đi lại trong căn nhà nhỏ, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Có lần, bí quá, giữa đêm khuya, anh chạy sang đập cửa nhà bà Năm hàng xóm để hỏi cách hạ sốt cho con. Cứ thế, Lâm nuôi thằng Tâm lớn dần lên theo tháng năm bằng những vụng về của mình. Ban ngày, anh gửi con cho hàng xóm, theo ghe ra sông. Hết mùa cá lại theo người ta đi phụ hồ trên thị trấn, tối mịt mới về tới nhà. Có hôm, vừa bước vô cửa, đã nghe tiếng Tâm khóc khản cả giọng vì đói. Lâm ngồi bệt xuống nền đất, ôm con vào lòng mà nước mắt chảy dài. Đó là lần thứ hai trong đời, người đàn ông ấy khóc. Lần đầu anh khóc vì sự ra đi vĩnh viễn của vợ. Còn lần này anh khóc vì thương con và bất lực trước cái nghèo túng triền miên. Anh chẳng thể thay đổi số phận và làm gì cho con được. Cái nghèo khiến anh không được ở bên con thường xuyên, để ấp ủ và yêu thương nó nhiều hơn.
Cứ vậy, Tâm lớn lên trong mùi nước sông bên nhà, mùi vôi vữa từ người cha và từ cuộc sống thiếu thốn nhiều thứ của cha con nó. Nhiều hôm đi học về, nó chỉ thấy nồi cơm khô khốc với đĩa rau góp chấm mắm cha để sẵn trên bàn. Nhưng, Tâm là đứa bé hiểu chuyện. Nó thương cha lắm. Đi học về là phụ người ta vá lưới, khuân vác hàng hóa ngoài bến tàu để kiếm tiền mua thức ăn hoặc đóng học phí cho mình, những mong cha nó bớt khổ.
Vào mùa mưa, trời mưa như trút, nước dột tong tong xuống giữa nhà. Lâm không đi làm được, cha con lúi húi đặt thau hứng nước mưa. Tâm nhìn cha, cười:
- Mai mốt đi làm có tiền, con sẽ lợp cái mái mới cho cha coi!
Lâm vui vì con biết nghĩ. Nhưng, anh vẫn cốc nhẹ đầu con, mắng yêu:
- Lo học đi, cha nội!
Đêm đó, nằm nghe tiếng mưa nhỏ giọt xuống cái thau cạnh chân giường của hai cha con, anh không ngủ được. Sau ngày vợ mất, Lâm gần như không có một ngày nào thật sự vui. Anh tìm quên tất cả bằng việc ghé vào một quán nước đầu bến cá. Ban đầu, anh chỉ làm vài chén với bạn ghe, sau một ngày ngâm mình ngoài sông lạnh ngắt. Người ta uống để quên mệt. Còn anh, anh cũng uống để quên cảm giác căn nhà trống hoác mỗi khi đêm xuống.
Rồi, những cuộc nhậu thành thói quen, mà thói quen thường khó bỏ. Có hôm khuya lơ khuya lắc anh mới về. Trước hiên nhà, anh đã thấy Tâm ngủ gục ngoài hiên, tay vẫn cầm cuốn vở học bài. Chắc nó vừa học vừa chờ anh về đó. Lâm lay thằng con dậy. Thằng nhỏ nửa mê nửa tỉnh, dụi đầu vào ngực cha:
- Cha về rồi hả? Con chờ hoài!
Nghe con nói, lòng anh nhói lên. Nhưng, sáng hôm sau, mọi thứ lại cuốn anh đi. Công việc cơm áo, những chầu nhậu, vài ván bài giải buồn sau giờ làm... Tất cả cứ lặp lại như một vòng quay cũ kỹ. Tâm chưa bao giờ trách cha. Mỗi lần thấy Lâm uống nhiều, nó chỉ nhỏ nhẹ:
- Cha uống ít thôi nghen!
Lâm thường xoa đầu con, cười xòa:
- Đàn ông mà, ai chẳng vậy.
Ngọn đèn dầu lúc này bất chợt rung lên. Lâm nhìn cái bóng trên vách:
- Nó giống mẹ nó lắm. Cũng thương người, cũng hay lo...
Anh rót thêm rượu:
- Hôm nó xin theo ghe chở hàng, tao không muốn đâu. Nhưng, tiền công chuyến đó cao. Nó nói, tranh thủ nghỉ hè, làm vài chuyến là đủ tiền lợp lại mái nhà, đón mùa mưa tới.
Lâm bật cười khô khốc:
- Mới mười sáu tuổi đầu... mà đã nghĩ chuyện lo cho tao.
Ngoài sông, tiếng gió đêm ràn rạt thổi qua đám lục bình. Lâm cúi mặt:
- Hôm đó... đáng lẽ tao phải ở nhà...
Anh nhớ rất rõ buổi chiều ấy, trong xóm có đám nhậu. Người ta kéo anh đi từ sớm. Tâm đứng ngoài cửa, tay cầm cái túi nhỏ:
- Cha có ra bến với con không?
Lâm đang cáu vì thua bài, gắt lên:
- Đi đi! Theo ghe vài bữa rồi về, tiễn với đưa gì!
Tâm im lặng một chút, rồi cười:
- Vậy... cha uống ít thôi nghen!
Đó là câu cuối cùng nó nói với cha. Và, cũng đêm đó, ghe nó vừa đi được một lúc thì gặp cơn mưa dông lớn, bất ngờ, giữa khúc sông xoáy... Tin dữ báo về lúc gần sáng. Lúc ấy, Lâm đang nằm vật ngoài hiên sau cơn say thì nghe tiếng người đập cửa dồn dập:
- Ông Lâm ơi! Ghe thằng Tâm gặp nạn rồi!
Anh bật dậy, chân tay rụng rời. Chiếc đèn pin còn chưa kịp cầm chắc, anh đã lao thẳng ra bến sông. Mưa vẫn đổ trắng mặt nước. Mấy chiếc ghe của dân làng đang chạy ngược chạy xuôi giữa dòng nước tối đen, tìm kiếm. Tâm nhảy lên chiếc ghe nhỏ của người hàng xóm đang chờ mình dưới bến. Chiếc ghe phóng thẳng ra nơi gặp nạn của những người xấu số. Anh gào lên trong đêm tối và gió mưa:
- Tâm ơi! Con ở đâu? Cha đây, con ơi!
Lâm đứng ở mũi ghe, hai tay bấu chặt vào thành gỗ đến bật máu, mắt không ngừng tìm kiếm trên mặt sông mênh mông. Không có tiếng trả lời. Suốt mấy ngày sau đó, anh gần như không ăn ngủ. Ban ngày, anh theo người ta lặn tìm dọc các khúc sông. Đêm đến, anh lại cầm đèn pin đi men theo bãi bồi, vừa đi vừa gọi tên con cho đến sáng. Có lần, thấy một bóng người nổi lờ mờ giữa đám lục bình, anh lao xuống nước như điên. Nhưng, chỉ là một khúc gỗ mục. Người trong xóm nhìn cảnh ấy mà xót xa:
- Tội nghiệp quá! Lâm ơi... giữ sức đi!
- Chắc thằng nhỏ đi thật rồi!...
- Phải sống tiếp thay phần nó, ông Lâm ơi!
Nhưng, Lâm không muốn nghe vì anh vẫn tin con mình còn đâu đó, ngoài kia. Cho đến tận ngày thứ sáu, người ta mới vớt được cái áo của thằng Tâm mắc vào bụi lục bình, dưới hạ nguồn. Khi chiếc áo đầy bùn đất ấy được mang về, Lâm đứng chết lặng ngoài sân. Anh không khóc, cũng không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm vào chỗ tay áo đã sờn chỉ của con. Mấy hôm trước, chính anh còn ngồi may lại đường chỉ ấy, sau khi nó xin cha cho theo chuyến hàng trên sông. Đêm đó, Lâm ôm cái áo của thằng Tâm và cứ ngồi cho tới sáng. Con chó mực thằng Tâm nuôi, cứ quẩn quanh bên anh, kêu ư ử. Lâu lâu, nó lại chạy ra phía bờ sông tối đen, tru lên từng hồi thê thiết. Với Lâm, chỉ cần chưa thấy xác con, anh vẫn có thể tự lừa mình: Biết đâu, một ngày nào đó, thằng nhỏ sẽ về, cười hiền như mọi bữa: “Cha! Con về rồi nè!”.
Rồi, cứ vậy, chiều đến là Lâm lại ra ngồi ở bến sông, tối mịt vẫn chưa chịu về. Có lần, anh như nhìn thấy bóng thằng Tâm từ dưới ghe lên, đi về hướng nhà mình. Mừng quá, anh lao đến. Nhưng, tất cả chỉ là ảo ảnh. Trước sân, trong nhà, vẫn chẳng có một ai. vắng lặng. Chỉ có ánh trăng đang vỡ nhòe đi trong mắt Lâm lúc ấy và tiếng côn trùng rả rích kêu sương. Sau hơn một tháng liên tục tìm kiếm và chờ mong con trong vô vọng, người ta không còn nhận ra Lâm nữa. Anh như người mất hồn. Khuôn mặt hốc hác, đầu tóc rối bù, bết dính, đôi mắt đỏ đọc. Mọi người trong xóm phải kéo Lâm về và thay nhau ở bên cạnh anh. Suốt mấy ngày sau đó, Lâm mê sảng, gọi tên con. Anh gần như không còn chút sức lực nào để gượng dậy nữa.
Khi có thể ngồi dậy, Lâm bắt đầu tìm đến rượu. Ban đầu, uống chỉ để ngủ được. Sau, anh uống ngày càng nhiều hơn, để tìm quên. Nhưng, càng uống, anh lại càng nhớ con. Và rồi, trong những đêm mềm môi vì rượu ấy, anh nhìn thấy cái bóng của mình trên vách. Cái bóng im lặng. Nó không an ủi, cũng không trách móc. Nhưng, chính sự im lặng ấy đã khiến anh không thể trốn khỏi mình thêm nữa. Lâm ngửa cổ uống thêm một ngụm:
- Mày nghĩ... nó có trách tao không?
Cái bóng vẫn lặng im. Lâm cười buồn:
- Tao thì trách tao lắm!
Đang nói, Lâm bỗng ngừng lại. Kí ức gợi anh nhớ về lần Tâm bị sốt xuất huyết. Hôm đó, thằng nhỏ sốt dữ, khuôn mặt đỏ lừ, anh đã cõng nó chạy bộ gần năm cây số mới đến được trạm xá xã để cấp cứu. Lúc ấy, nằm trên lưng cha, đang sốt nóng hầm hập mà thằng Tâm vẫn hỏi:
- Cha có mệt không?
Nó thương cha vậy đó. Còn anh, trước chuyến đi định mệnh của con, anh đã không tiễn mà còn quát nó. Ngoài sân, gió về đêm thổi mạnh hơn. Ánh đèn chao nghiêng làm cái bóng trên tường cũng lay động. Lâm đập tay xuống bàn, gắt gỏng:
- Mày nói gì đi chứ? Sao cứ nghe tao nói không à!
Tiếng chén rượu va vào mặt bàn gỗ nghe khô khốc, rồi tất cả chìm vào im lặng. Một lúc sau, có tiếng nghẹn ngào thốt ra từ người đàn ông ấy:
- Tao xin lỗi...
Giọng anh như vỡ ra:
- Đáng lẽ, tao phải ôm nó một cái... Đáng lẽ, tao phải ra bến... Đáng lẽ, tao phải cho nó biết tao thương nó và tự hào vì nó...
Trong hốc mắt sâu tối của người đàn ông ấy, những giọt nước mắt chảy ra, lăn trên khuôn mặt sạm nắng:
- Tao chỉ còn có nó thôi mà... chỉ còn nó thôi!... Trời ơi!
Ngoài sông, nước vẫn chảy miệt mài trong đêm tối. Chỉ có tiếng gió thì thào đi lại trên những tàu lá. Cái bóng trên vách cũng ngả nghiêng, nức nở. Những ngày sau đó, người trong xóm bắt đầu thấy căn nhà cuối bờ sông có sự thay đổi. Lâm phát cỏ ngoài sân, vá lại mái nhà mình. Có hôm, anh còn sửa cả cánh cửa đã hỏng bản lề cho nhà bà Sáu đơn chiếc ở gần đó. Gặp Lâm, có người hỏi vui:
- Ông Lâm dạo này tỉnh rượu rồi hả?
Anh chỉ cười. Đêm xuống, trên chiếc bàn nhỏ trong căn nhà vắng lạnh vẫn có hai chén rượu. Nhưng, rượu trong chai hình như vơi chậm hơn trước. Một buổi trưa, cu Minh, con nhà Năm Hưng cách đó mấy căn, ôm giỏ cá chạy qua:
- Má con gửi chú ít cá nấu chua!
Tiếng trẻ con làm căn nhà bỗng bớt lạnh. Lâm mở cửa đón thằng nhỏ. Anh xoa đầu nó:
- Vô đi, con!
Cu Minh vừa đi vừa ngó quanh:
- Nhà chú mát ghê!
Lâm cười:
- Ừ... Gần sông mà!
Cơm có rồi. Lâm nấu nhanh tô canh chua rồi giữ cu Minh ở lại ăn cho vui. Thằng nhỏ ăn ngon lành. Bất chợt, nó hỏi:
- Chú không có con hả?
Bàn tay đang gắp rau của Lâm khựng lại. Anh nhìn nhanh lên vách tường. Ban ngày, không có cái bóng nào ở đó cả. Một lúc lâu, anh đáp:
- Có chứ, con trai. Nhưng... nó đi xa rồi!
Minh ngây thơ:
- Mai ảnh về không?
Lâm cúi đầu:
- Chắc... không về được đâu!
Thằng nhỏ im lặng. Rồi, nó gắp miếng cá nạc, bỏ vào chén anh:
- Chú ăn đi. Ngon lắm đó!
Lâm nhìn miếng cá rất lâu, mắt anh cay sè. Ngày trước, Tâm cũng hay làm vậy. Anh ăn chậm rãi... Miếng cơm đầu tiên sau nhiều năm vắng thằng Tâm đã không còn nhạt nữa.
Đêm đó, Lâm lại ngồi với bình rượu trên bàn. Anh rót rượu ra hai chén như trước, giục:
- Uống đi! Hôm nay tao vui... nhà tao có khách đó nghe!
Cái bóng lặng im. Lâm cười nhẹ:
- Mà thằng nhỏ đó giống nó hồi bé chớ bộ!
Gió thổi qua mặt sông, mang theo hơi nước mát lạnh. Lâm nhìn cái bóng thật lâu rồi gật gù:
- Tao nghĩ... tao phải sống tiếp thôi!
Anh đặt tay lên ngực mình:
- Nhưng, không phải để quên nó, mà để khi gặp lại... tao còn dám nhìn mặt nó!
Ngọn đèn dầu phụt tắt. Cái bóng trên vách biến mất.
Lâm bước chậm ra phía bờ sông, nơi dòng nước vẫn trôi về muôn phương. Dưới ánh trăng sáng, cái bóng vẫn lặng lẽ đi theo anh. Rồi, lần đầu tiên sau bốn năm mất con, người đàn ông ấy không nhìn dòng sông nữa mà ngước lên nhìn trăng và thì thầm:
- Tâm à! Cha nhớ con!...
- Tâm à! Đừng trốn cha nữa!
- Cha đã thay đổi nhiều rồi, con về với cha, con sẽ không buồn vì cha nữa...
Và rồi, từ phía bờ sông, bóng một người con trai mảnh dẻ bước chầm chậm trên sóng, bước chầm chậm trên bến trăng. Lâm dụi mắt nhìn kỹ, trái tim anh rớt xuống bến trăng vỡ ra óng ánh những giọt nước mắt đã rơi. Lâm nhìn kỹ, nhìn kỹ, nhìn như muốn nổ con ngươi mắt. Nhưng, cái bóng càng gần, anh càng lùi lại, càng tiến tới anh, anh càng bước hụt ra sau. Lâm không muốn ảo ảnh trước mắt mình tan biến. Anh không muốn tất cả sẽ biến mất như những lần trước. Anh lùi lại, lùi lại...
Nhưng, Lâm dường như không còn tin vào tai mình nữa. Một tiếng gọi thảng thốt xa xăm hiền khô từ đâu đó trên bầu trời cao rớt xuống tim anh đau nhói.
- Cha ơi! Con về rồi nè! l