Bản Chiềng Đông nhìn ngược từ phía hạ lưu, trông như bức tranh thủy mặc ai đó vừa gắn hờ nơi bờ trái, thượng nguồn con sông Mã hung dữ với những ghềnh thác. Mùa lũ, dòng chảy tuôn xối, tung bọt trắng xóa. Bụi nước ướt đẫm đôi bờ hoa lau.
Buổi sáng, bản chìm trong lớp sương mù đặc quánh từ lưng chừng núi đùn ra, lấn át, vô tâm đè lên từng làn khói bếp từ những ngôi nhà sàn dưới chân núi, lãng đãng, lờ đờ, uể oải bay lên. Suối chảy róc rách, thì thầm, cung bậc đêm, vắng lặng, vời vợi, tiếng gà rừng gáy sáng cất lên, eo óc, bí ẩn vọng từ những cánh rừng đại ngàn xa tít đầy sương phủ.
Khi ấy, bản Chiềng Đông như bừng thức, dần dần hiện lên, đủ các gam màu. Mặt trời từ những khe núi chiếu rọi, ánh sáng xuyên qua lớp lớp sương mù, bản Chiềng Đông hiện lên, đẹp, huyền ảo như một bản mường từ thuở sơ khai trong lời kể của một ông Ậu mo từ thời “Đẻ đất đẻ nước”.
Hàng trăm năm trôi qua, cho đến bây giờ, chưa một ai có tài liệu xác tín về nguồn cội của bản Chiềng Đông, kể cả các nhà nghiên cứu văn hóa Mường tài giỏi và có nhiều bài viết tham luận từ các cuộc hội thảo khoa học trong cả nước. Chỉ biết, hiện giờ, ở bản Chiềng Đông vẫn còn một ông già làm Ậu mo nổi tiếng trong mười mấy xứ Mường ngót gần một thế kỉ. Người già trong bản nói rằng, tính từ đời thứ nhất, người làm Ậu mo ở bản Chiềng Đông, kế đến ông Ậu Cường bây giờ là Ậu mo thứ chín hay mười chín gì đó.
Thời gian trôi qua vùn vụt như làn mây trên núi biếc, chỉ biết ở Bản Chiềng Đông bây giờ vẫn còn lưu lại một bến sông có cây sung và cây lội già vài trăm năm tuổi. Trên bến sông còn có cây lim bị lũ cuốn từ ngày nảo ngày nào, trên thượng nguồn kềnh càng trôi xuống rồi như có sự sắp đặt của Chúa trời, nằm chềnh ềnh.
Mỗi năm, bao nhiêu trận lũ lụt đổ về, cây lim già một nửa cắm sâu xuống bờ đất, nửa nổi trên mặt nước, ở thế bị chôn chặt, không thể nhúc nhích, cứ phó mặc cho dòng nước bào mòn. Nửa phần cây ngâm dưới nước, phần nổi trồi lên trên như thân thể gã khổng lồ phô diễn, da thịt cứng như sắt, tháng ngày trơ gan cùng tuế nguyệt.
Chiều xuống, tiếng mõ trâu lốc cốc đổ về bản, chim chóc tíu tít kéo nhau từng đàn sà xuống rặng cây ngơn, rặng sấu, rặng cây trứng cá rũ tóc bên bờ sông, cùng với lũ trẻ trâu nhí nhố như đàn vượn con leo ra cành lim, cành lội, thi nhau nhảy tùm tùm xuống dòng sông trong ráng chiều tàn, khi hoàng hôn đang khuất dần sau dãy núi phía thượng nguồn xa xanh hun hút...
Nơi bến sông ấy, mỗi chiều hè khi hoàng hôn nhuốm vàng trên những bãi bờ, từ con đường nhỏ dẫn xuống bến sông, có một ông già râu tóc bạc phơ, mặc áo dài năm thân, cài khuy nách, men qua mỏm đá nhấp nhô như hàm cá mập, đến ngồi bên gốc lim mê mải đọc mo Mường. Khi ông đọc mo, chim chóc tưởng như ngừng hót. Từng đàn cá chày mắt đỏ hoe như đang thương khóc những cá con chưa kịp lớn đã bị cá khác loài hung dữ nhoi lên từ đám rêu đá xanh rì bí ẩn và nguy hiểm vật vờ theo dòng chảy, liên tục đớp lấy, làm bữa tráng miệng. No nê, chúng tụm lại quanh gốc lội, gốc lim già ngúng nguẩy đuôi, đùa giỡn, đú đởn vuốt ve nhau.
Khi đó, ông Ậu Cường vừa đọc gần hết bài “mo lên trời”. Bài mo dẫn dắt linh hồn người chết trước khi trở về Mường Ma gặp ma ông ma cố. Ông Ậu Cường như hóa thân thành Ma Nổ, đại diện cho đấng thần linh. Khi ông đọc mo, không ai gọi được ông quay về, chỉ có cô Thông, người con gái độc nhất, mặc áo khóm xẻ ngực cùng với cặp váy Mường duyên dáng, nhẹ nhàng bước xuống từ cầu thang của ngôi nhà sàn to nhất bản, rón rén ra bờ sông lay thức và đưa cha trở về ngôi nhà sàn, nơi chỉ có hai cha con cô trú ngụ. Ông Ậu Cường là người tuổi cao nhất bản và cũng là người Ậu mo cuối cùng của bản Chiềng Đông...
*
Tôi với Thông cùng lớn lên nơi bản Chiềng Đông. Hai đứa học với nhau từ ngày cấp 1. Hai nhà cách nhau một con suối nhỏ. Sau này, khi lớn dần, chúng tôi cùng học lên cấp 2. Mỗi sáng, ông Ậu Cường, cha cô, đưa hai đứa qua sông sang bờ phải, nơi có trường cấp 2 của xã bằng con thuyền độc mộc. Ngay từ những ngày ấy, như là định mệnh, tôi đã mê những bài mo của ông Ậu Cường.
Tôi từng chứng kiến và ghi nhớ những đám tang ma trong bản mà Ậu Cường làm chủ lễ. Đến cổng nhà đám, Ậu mo dừng lại, tuốt kiếm làm phép, chém ngang chém dọc vào không khí để trừ các loại ma quỷ đến quấy rối. Khi Ậu Cường bước vào, dùng chân phải đá lật chiếu để ông Túa (chủ nhà) trải trái lại lúc ban đầu rồi mới đặt mâm, khi đó ông Ậu mới ngồi xuống. Chiếu này phải trải sát chân cột cái, nơi thờ tổ tiên, người Mường gọi là “tố chiều hoác”. Lễ Nổ xong, xin cảo (âm dương) được rồi thì Ậu mo mới chính thức làm lễ cho nhà đám.
Ậu mo bắt đầu kể và giải thích chuyện sinh ra trời đất, năm tháng, con người, vật nuôi từ thuở hồng hoang cho đến thời Lang Cun Cần ra coi binh chiếm Mường, nhà Lang phải chiến đấu chống lại thú dữ rồi về kinh kỳ làm vua Mường như thế nào.
Ậu mo dẫn hồn người chết đi lên trời, chuộc số, chuộc tên, chuộc tội, nhòm đất, nhòm mường, cuối cùng mới xin được tuông biết bay, trở về tuông chim để bay về với ma ông, ma cố...
Thấy tôi còn bé mà đã ham thích và như có duyên với việc làm Ậu mo, ông Ậu Cường có vẻ yêu mến tôi. Ông dành thời gian và những bài mo của ông đọc cho tôi và cô con gái của ông nghe. Dần dần rồi tôi như người nghiện mo Mường. Theo dòng thời gian, tôi đã đọc hết các bài mo: Mo Vải, Mo Trêu, Mo Lên Trời, Mo Nhãn, mo sử thi “Đẻ đất đẻ nước”.
Ông Ậu Cường rất quý và coi tôi như con đẻ. Còn Thông, thì càng ngày càng mến phục tôi. Sau này, lớn lên, càng trưởng thành, tôi càng cảm thấu được giá trị của những bài mo Mường. Mặc dù mo chỉ là đọc trong các nghi lễ tang ma, nhưng những lời mo rõ ràng, sáng sủa, sáng tác dân gian nhưng rất bác học. Những áng văn truyền miệng mang giá trị nghệ thuật, nhân văn, thấm đẫm tính dân tộc, tình người, uyên bác, muôn đời không mai một. Những bài mo Mường như mở ra chân trời xa mà gần, lạ mà quen, gần gũi với cõi người trần thế...
Tốt nghiệp cấp 3, tôi vào lính. Gần 5 năm chiến đấu ở chiến trường B3 Tây Nguyên, đêm ngày mê mải với công việc của một trinh sát kỹ thuật thuộc Cục Tình báo Quốc phòng, tôi vẫn không nguôi nỗi nhớ về bản Chiềng Đông, nơi tôi đã gắn bó cả tuổi thơ, với người bạn gái, với những lời kể trong những bài mo mà ông Ậu Cường, người Ậu mo cuối cùng ấy.
Thời chiến tranh, chiến trường B3 khốc liệt, mênh mông núi rừng, việc gửi thư về hậu phương rất khó khăn vì không có phương tiện liên lạc qua các vùng nhan nhản quân địch. Sáu năm xa cách ấy, tôi với Thông gần như bặt tin nhau. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, tôi được giải ngũ về quê mới biết ông Ậu Cường đã mất trước đó hai năm rồi. Ngày hôm sau, sắm chút lễ vật, tôi đến thắp hương cho ông Ậu Cường.
Thông biết tin tôi trở về, cô ra tận ngõ chờ đón bước chân của tôi. Thông thấy tôi, khóc. Mới có gần sáu năm thôi mà trông Thông khác hẳn ngày tôi rời bến sông của bản Chiềng Đông ra mặt trận. Trông cô chín chắn, điềm tĩnh, đôi mắt mở to, giống như người ngủ mơ mới vừa bừng tỉnh khi tôi xuất hiện trong bộ đồ quân nhân, nước da sạm màu nắng gió Tây Nguyên.
Tôi và Thông chậm rãi bước lên chiếc cầu thang chín bậc. Từng bậc thang, mặt gỗ đã nhẵn thín, đen bóng theo thời gian và những bước chân con người qua mấy thế hệ. Có thể, trên bậc cầu thang này, Thông đã bao nhiêu lần đứng ngóng tin tôi, bao nhiêu lần rớm lệ vì chiến trường khốc liệt mà bóng dáng người bạn trai từ thuở thiếu thời vẫn bằn bặt phía trời Nam.
Tôi đặt lễ, thắp nhang lên bàn thờ người Ậu mo cuối cùng của bản. Thay cho lời khấn vái như người dưới xuôi, tôi lẩm nhẩm đọc một đoạn “mo dẫn đường”. Vì tôi biết, ngày ông Ậu Cường về Mường Ma, không có ông Ậu nào đọc bài mo dẫn đường để dẫn vong hồn ông lên trời. Thông đứng lặng cạnh bên nghe tôi đọc làu làu. Xong rồi, tôi với Thông cùng ngồi xuống chiếc chiếu từ ngày xưa, ngày ông Ậu Cường vẫn thường ngồi, trải phía trước bàn thờ. Thông ngước nhìn tôi, ánh mắt buồn mênh mông nhưng tươi sáng như màu xanh của rừng cây sau trận mưa rừng trời vừa hửng nắng. Thông kể cho tôi nghe ngày ông Ậu Cường mất trong nỗi buồn thương vô hạn của người con gái độc nhất.
- Có lẽ, cha em là người Ậu mo cuối cùng của xứ Mường, anh ạ! Cả đời ông đám tang ma nào ông cũng đến đọc mo để dẫn linh hồn người chết lên trời, để họ có một cuộc đời mới, khá giả hơn khi trở về Mường Ma gặp ma ông ma cố, vậy mà đám tang ông lại vắng tiếng mo.
Tôi nhìn thấy đôi mắt Thông với nét mặt đẫm buồn. Phía sau cô, phảng phất trong làn khói bếp. Làn khói bếp trong nhà đã lâu ngày không có mùi thịt chuột nướng, mùi thịt thú rừng xông khói, mùi hông xôi. Buồn hiu hắt.
- Bao nhiêu năm rồi, vào chiến trường trận mạc mà Thanh còn thuộc lời mo của cha thế sao?
- Sao lại không nhớ! Khi tôi lên đường, ông cụ dặn tôi là khi nào về, ông sẽ truyền dạy cho tất cả các bài mo mà ông đã thuộc làu từ thời trai trẻ.
Tôi nhìn ngôi nhà sàn lớn, từ ngày ông Ậu Cường mất, như rộng ra và trống vắng thêm. Tôi nhìn Thông, vẻ thấu hiểu, thương cảm. Thông bảo, dù chưa hẹn ước nhưng cô vẫn chờ tôi trở về. Trước khi về Mường Trời, cha cô đã dặn: “Con gái ạ! Cha đã chọn kỹ rồi! Ở bản Chiềng Đông này, chỉ có thằng Thanh là có thể kế nghiệp cha, trở thành một Ậu mo của bản mà thôi!”.
- Không lẽ ông cụ ra đi, mang theo tất cả các bài mo về Mường Ma rồi ư? Tiếc quá nhỉ! Giá như những năm bên cạnh ông, tôi ghi lại từng bài mỗi khi ông đọc, thì bây giờ...
Thông chợt mỉm cười, hai má tự nhiên đỏ ửng. Cô đứng dậy, lẳng lặng đi vào trong nhà, lát sau trở ra, trên tay cô ôm một tập giấy, dày đến nửa gang tay, ghi chi chít, toàn chữ là chữ.
Thông ngồi sát bên tôi. Giọng cô bỗng dưng thầm thĩ như tiếng suối rừng mùa xuân, róc rách qua bậc đá.
- Đây là tất cả những gì em nhận lại từ cha. Những đêm buồn không ngủ, cha em dậy lẩm nhẩm đọc mo một mình. Em bảo cha: “Cha ơi! Chẳng lẽ sau này cha về Mường Trời, mang theo tất cả những bài mo của cha ư?”. Cha nhìn em âu yếm, rồi bảo: “Không đâu con! Đây là tất cả các bài mo cha đã học thuộc và tập hợp từ các xứ Mường, cha sẽ gửi nó lại cho con. Con là phận gái, không thể kế nghiệp làm Ậu mo thay cha được. Con chọn chàng trai Mường nào xứng đáng để ủy thác, kế tục những bài mo của cha là tùy con. Phúc nhà là ở đó, phúc của cả xứ Mường ta là ở đó. Sau rồi cha nhắc đến anh, hỏi lâu có nhận được thư của thằng Thanh không?
Tôi cầm tập bản thảo mo Mường nặng và dày đến nửa gang tay, như cảm nhận được hơi ấm truyền lại của người Ậu mo cuối cùng của bản Chiềng Đông, lòng dâng đầy cảm xúc. Như nhận thấy linh hồn bao nhiêu lớp người từ thuở “Đẻ đất đẻ nước” của mười mấy xứ Mường đang rung lên trong tay tôi, thiêng liêng và cao cả. Tự dưng như có một lực bí hiểm nào thúc đẩy, tôi cầm lấy bàn tay Thông, ngồi sát lại bên nàng. Tiết cuối thu đã chớm lạnh. Thông ngồi yên, cả hai đứa nghe rõ tiếng từng cành lá khô đang đưa đẩy sàn sạt trên mái nhà sàn. Thông chợt sụt sùi rồi bảo:
- Chiều hôm ấy, trời đã gần tối rồi mà em không thấy cha về. Như có linh tính mách bảo, em liền chạy ra bến sông tìm, nơi gốc lội gần ngàn năm tuổi xù xì, nơi ngày anh còn ở nhà, ta vẫn thường ra tắm ấy. Em thấy cha đang ngồi, lưng tựa vào rễ cây lội già, đầu cúi gục. Đến gần, em nghe rõ tiếng cha thì thầm như đang đọc mo, dẫn dắt linh hồn người Mường tìm về nguồn cội. Tìm về thuở hồng hoang, có cây si đổ lá héo cành, rụng lá mục gốc nên đôi chim Ây, cái Ứa. Chim Ây cái Ứa làm tổ, đẻ trứng nở ra các loài vật...
Em biết rằng, cứ để cho ông ngồi như thế, ông có thể đọc mo cả đêm, đọc cho đến câu cuối cùng rồi ông về Mường Trời, để lại em, đứa con gái của người Ậu mo côi cút và đáng thương nhất bản. Em vội chạy đến đỡ cha đứng lên rồi dìu cha về nhà. Mãi đến hôm ấy, cha mới chịu giao tập bản thảo viết tay tất cả các bài mo mà cả đời cha đã ghi chép, tích góp cho em. Ngay đêm hôm ấy, cha đi về Mường Trời trong lặng lẽ. Chỉ có một mình em một cây đèn, ngồi đọc mo lên trời cho cha. Em không muốn cha đi mà linh hồn cha không có mo dẫn đường. Sáng hôm sau, em mới báo tin cho trưởng bản và bà con đến làm tang ma cho cha. Đám tang của cha là đám tang ma đầu tiên trong bản không có người Ậu mo nào đọc mo...
- Anh hiểu ý em rồi! Anh sẽ trở thành một Ậu mo của bản, tiếp tục thay cha đọc các bài mo trong các buổi lễ. Người Mường không thể thiếu người làm Ậu mo, vì đó là linh hồn của làng bản.
Đêm xuống. Cả bản Chiềng Đông như chìm vào biển sương mù dày đặc, dân bản bảo, đó là hơi thở của núi. Ban ngày trời càng nắng thì ban đêm, núi thở càng nhiều hơi sương. Từ những hang hốc như những cơ quan hô hấp của núi, sương mù tràn xuống, mỗi lúc một đặc quánh lại, rỉ ra từng giọt nước trong veo, nhỏ xuống từ mái tranh nhà sàn. Thông đứng dậy, lấy trên gác bếp mấy xiên thịt chuột rừng, tự cô đánh bẫy từ mấy ngày trước đặt trên lớp than hồng bếp lửa nhà sàn. Khi những xiên thịt chuột đã vàng, tỏa ra mùi thơm nức mũi, cô mới mang ra một cút rượu nếp.
- Đây là cút rượu nếp cuối cùng của cha. Anh uống đi rồi ghi nhớ những gì em ủy thác, về những gì anh đã hứa. Em nghĩ, cha đã chọn đúng chàng trai bản từ lời di nguyện của cha. Anh xứng đáng mà!
Tôi với Thông cùng uống rượu. Tôi bảo: “Bây giờ tôi sẽ đọc mo, Thông sửa cho giọng mo của tôi giống như cha, ông Ậu mo cuối cùng của bản nhé!”.
- Anh định đọc bài mo nào? Vì có nhiều bài mo lắm. Mo trêu, mo nhắn, mo vải, mo lên trời.
- Để tôi đọc mo lên trời. Tôi muốn nhân danh Ma Nổ, dẫn đường đưa linh hồn cha, người Ậu mo cuối cùng qua nhà Lang Chẹo Ré lên trời để cha nhòm đất, nhòm rừng, chuộc sổ chuộc tên, đi qua cầu Liêm La, qua nhà Cun xử kiện, xin được cành xi héo, xin được tuông chim để cha bay về trần gian trình với ma ông ma cố.
- Anh giỏi thế! Anh đã thuộc những bài mo của cha từ khi nào vậy?
- Anh thuộc từ khi chúng mình cùng ngồi chung trên con thuyền độc mộc cha chở sang sông. Mỗi khi cha đọc mo, nhìn ánh mắt và cư xử của cha, anh đã linh cảm thấy, một ngày nào đó, khi cha, người Ậu mo cuối cùng lên Mường trời, cha sẽ ủy thác công việc linh thiêng ấy cho anh.
Thông bỗng gục đầu vào vai tôi, thổn thức. Cô nói trong sự xúc động và sung sướng: “Ôi, cha ơi! Cuối cùng thì bản Chiềng Đông đã có một chàng trai Mường kế nghiệp của cha rồi! Từ nay, bản ta và các bản khác, khi có tang ma, đã có ông Ậu mo trẻ dẫn linh hồn lên Mường trời rồi, không phải bơ vơ nơi hạ giới nữa. Anh có biết không? Từ ngày cha mất, không những bản Chiềng Đông, mà các bản khác, có đám ma, không có người đọc mo, vắng lặng mà buồn lắm anh ơi. Những hồn ma của người Mường không có ai thay Ma Nổ dẫn lối, không biết họ có lên trời để chuộc tội gỡ tội, nhận đất, nhòm Mường, xin tuông, nhìn mặt cậu mộng bên ngoại, chú bác bên nội, rồi sau đó trở về Mường ma gặp ma ông ma cố được không”...
*
Hai tháng sau, tôi và Thông cưới nhau. Chúng tôi không phải lo làm nhà nữa vì đã có ngôi nhà sàn to nhất bản của cha vợ là ông Ậu Cường, người Ậu mo cuối cùng để lại và tôi chính thức trở thành chàng Ậu mo trẻ của bản Chiềng Đông từ ngày ấy...
Tết năm ấy, bản Chiềng Đông dựng cây nêu cao lắm. Trai gái trong bản đều có mặt, thi nhau ném còn. Những quả còn bay lên, tua rua chiếc đuôi đủ màu sắc. Mùa xuân ẩm ướt, khí xuân lan tỏa từ những cánh rừng già đại ngàn hòa nhập với sắc xanh tươi thắm của bản làng trải dài theo đôi bờ sông Mã. Nước sông Mã mùa xuân trong vắt tận đáy. Người ta có thể quan sát dưới những tầng đá xanh lổn nhổn đầy rêu xanh như làn tóc, thả dài theo dòng nước. Những con cá bống chỉ to bằng ngón tay cái, chắc nịch, nấp trong đám rêu xanh đẫm sắc xuân đang thập thò kiếm mồi. Chỉ cần ai đó thả lưỡi câu có móc một con giun đất nhỏ là nó đớp ngay. Vài chục lần giật dây câu, đã có nồi cá bống kho hay nấu với măng chua ngọt lịm.
Tôi và Thông đi chơi xuân. Cả bản trông thấy vợ chồng tôi đều vui vẻ chào đón. Bây giờ tôi đã là chàng Ậu mo trẻ và uy tín nhất trong Mường. Thông chiết chiếc khăn trắng thắt trên đầu, người trong bản gọi là bít trốc (hoặc mũ); áo ngắn, dài vừa chấm eo lưng cùng với áo tấm áo chùng, kéo dài xuống ngang đầu gối, phía dưới xòe rộng, hai vạt áo buông mềm mại cùng với yếm váy, hai phần chính là cạp váy, chân váy, cạp váy, màu sắc ánh lên dưới nắng xuân rực rỡ. Đó là cặp váy áo của người mế đã qua đời của Thông để lại, được dệt rất công phu. Tôi chưa bao giờ thấy Thông của tôi đẹp và lộng lẫy như thế. Tôi chợt nhận ra, ồ, hóa ra trang phục truyền thống của người phụ nữ Mường bản Chiềng Đông đã có tự xa xưa, có thua kém gì những mốt váy áo của quý cô bây giờ?...
Cuối năm sau, Thông đã sinh cho tôi một thằng cu kháu khỉnh. Thằng bé có cái mũi to, sống thẳng và cái miệng rộng, trông rõ sang. Đôi lông mày đen nhánh vút ngược lên, nghiêm cẩn và nhân hậu của một Ậu mo tí hon. Như vậy là dòng Ậu mo của bản Chiềng Đông do ông Ậu Cường đã có thêm cháu ngoại tiếp nối.
Từ ngày sinh con, Thông trẻ ra có đến năm sáu tuổi. Những hôm trong bản hay các bản khác có đám, tôi đi hành lễ, dáng trang nghiêm, huyền bí chẳng kém cha vợ là mấy. Khi tôi cất bước quanh chiếu trải dưới chân cột cái, vung kiếm, múa gươm, dáng uyển chuyển, điêu luyện và răn đe, tỏ rõ là một Ậu mo có hạng. Đám ma quỷ nghe mùi xôi thịt đến quấy rối, chắc chắn là sẽ phải chạy bán xới.
Tôi trở thành một Ậu mo nổi tiếng trong vùng. Khi ngồi trên chiếu đọc mo, giọng tôi ê a kéo dài cho có ngữ điệu dẫn dắt linh hồn người chết lên Mường trời, tôi nghe phía sau lưng có tiếng thì thầm của mấy bà mấy ún: “Cái giọng của ông Ậu mo này còn trẻ mà trong veo, sang trọng chả khác chi giọng của ông Ậu Cường ngày trước”...