Lâu nay tôi vẫn thầm ước ao mắt mình cận để tậu kính đeo vào cho ra dáng trí thức. Trong thâm tâm, tôi luôn mặc định rằng đó là đặc điểm không thể thiếu của một người học hàm, học vị cao.
Cách đây chừng bảy, tám tháng, mắt tôi tự dưng mờ tịt. Nhìn gần hay nhìn xa đều thấy nhòe nhoẹt, chẳng rõ thứ gì. Tôi hí hửng nghĩ bụng: “Thế là sắp thành nhà bác học rồi”.
Tôi lập tức đi khám. Vị bác sĩ nhìn tôi rồi phán:
- Anh bị cận 1.75 độ.
Vâng lời bác sĩ, tôi sắm ngay một chiếc kính. Nhưng khổ nỗi, cứ hễ đeo vào là đầu óc lại quay cuồng, buồn nôn không chịu nổi. Thậm chí có lần, nói ra thì hơi ngại, tôi đã nôn thốc nôn tháo đến mức mật xanh mật vàng đều ra hết.
Một người bạn khác thấy tôi vật vã nên thương tình mách cho một vị bác sĩ khác. Vị bác sĩ mới sau khi kiểm tra kỹ lưỡng liền mắng:
- Thằng cha lang băm nào bắt anh đeo cái kính này thế? Anh có bị cận đâu.
- Thế... thế tôi bị làm sao ạ?
- Viễn thị 2 độ.
Tôi lại tốn tiền mua kính mới. Lần này không còn chóng mặt buồn nôn nữa, nhưng mắt tôi lúc nào cũng giàn giụa nước.
Thấy tôi mắt mũi kèm nhèm, một người bạn ái ngại:
- Phải đến bệnh viện nhà nước mà khám cho tử tế. Ở đó máy móc hiện đại, có cả giáo sư nhãn khoa chứ không phải mấy ông bác sĩ tư nhân nghiệp dư đâu.
Bệnh viện công đúng là có khác: thiết bị sáng loáng, hiện đại vô cùng. Vị giáo sư sau khi nghe tôi kể khổ về việc hết người bảo cận lại đến người bảo viễn liền nổi trận lôi đình:
- Đồ ngu xuẩn. Anh không cận cũng chẳng viễn. Anh bị loạn thị.
Tôi lại thay kính theo đơn giáo sư. Đeo vào thì thấy vừa vặn, nhìn mọi vật sắc nét lắm. Thế nhưng, có một vấn đề nảy sinh: mọi thứ bỗng dưng lùi xa tít tắp. Căn phòng tôi ở mấy chục năm nay bỗng rộng thênh thang, bức tường cứ như cách xa hàng chục mét. Tôi định bắt tay người quen mà tay cứ chới với giữa không trung vì không sao với tới. Giấy viết thì chạy xa khỏi tầm tay, còn mọi vật thì bé xíu như hạt đậu. Kinh khủng nhất là tôi không thể ăn uống gì, vì cứ định múc súp là cái bát lại như đang lùi ra xa.
Kiệt sức vì đói, tôi được dắt đến một bác sĩ tu nghiệp ở Mỹ về. Ông ta xem xong liền phẫn nộ:
- Ai cho anh cái đơn quái đản này? Kiện cho hắn ta mất nghề luôn đi.
Tôi chỉ đành thở dài, rồi lại thay kính. Lần này, mắt tôi nhìn một hóa hai. Thật là quái gở! Rồi tôi tìm đến một bác sĩ học ở Đức về. Ông này kết luận:
- Sai hết! Mắt này là một bên viễn, một bên cận.
Lại uống thuốc, lại tiêm, lại sắm kính mới... Cứ thế, tôi lạc vào vòng xoáy của những chẩn đoán ngược đời. Có lúc đeo kính vào thấy cả thế giới nhuộm màu xanh ngắt, có lúc lại bước loạng quạng vì tưởng đường bằng phẳng là bậc cầu thang cao ngất. Rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Một lần đi trên cầu, do nhìn nhầm độ cao của bậc thang, tôi bước hụt một cái và ngã lăn quay. Cặp kính văng mất, mắt tôi mờ ảo không thấy gì. Khi có người đỡ dậy và đưa lại chiếc kính, tôi đeo vào thì... Mọi vật bỗng trở nên sáng sủa, rõ nét đến lạ thường.
Tôi nhìn rõ từng dòng chữ nhỏ trên báo, thấy cả tên chiếc tàu thủy đậu tận ngoài khơi xa. Tôi sướng phát điên, thầm thề sẽ không bao giờ bén mảng tới lão bác sĩ mắt nào nữa. Tôi hăm hở về nhà, lòng tràn ngập niềm vui. Vừa thấy tôi, vợ đã ngạc nhiên hỏi:
- Kính của anh bị làm sao thế kia?
- Làm sao là làm sao?
Tôi tháo kính ra nhìn. Ngón tay tôi có thể chọc lọt qua cái gọng kính không một chút vướng víu. Té ra, mắt kính đã vỡ tan tành từ lúc ngã, chỉ còn lại cái gọng không.
Hiếu Nghiêm (dịch)