Hình ảnh giúp bài thơ có sức gợi, tránh kể lể trực tiếp
Một bài thơ có thể bắt đầu từ một cảm xúc mơ hồ, một suy nghĩ, một nỗi nhớ, một niềm đau, nhưng để cảm xúc ấy trở thành thơ, nhà thơ thường phải tìm được hình ảnh tương ứng. Một số bạn yêu thơ quan tâm đến vấn đề này và tôi xin khẳng định: Hình ảnh làm nên linh hồn của bài thơ vì hình ảnh chính là nơi cảm xúc được “nhìn thấy”, suy tưởng được “chạm vào”, và cái trừu tượng trở nên cụ thể.
Cảm xúc vốn vô hình. Ta không thể nhìn thấy trực tiếp nỗi nhớ, tình yêu, cô đơn, khát vọng hay mất mát. Nhưng thơ có khả năng làm cho những cảm xúc ấy hiện ra qua hình ảnh. Ví dụ, khi Xuân Quỳnh viết về tình yêu, chị không nói tình yêu là bất an, mãnh liệt, khắc khoải một cách khô khan. Chị tìm đến hình ảnh sóng: “Dữ dội và dịu êm”. Chỉ một hình ảnh sóng đã chứa được hai trạng thái đối lập của tình yêu: vừa mạnh mẽ, vừa mềm yếu, vừa khao khát, vừa lo âu. Nhờ hình ảnh ấy, tình yêu không còn là một khái niệm chung chung mà trở thành một chuyển động cụ thể, có nhịp, có âm thanh, có không gian.
Ở Lưu Quang Vũ, hình ảnh cũng thường gắn với những rung động sâu xa về đời sống, đất nước, con người. Trong bài “Tiếng Việt”, ông không lý luận về tiếng mẹ đẻ bằng khái niệm ngôn ngữ học, mà gọi tiếng Việt bằng những hình ảnh thân thuộc: tiếng mẹ ru, tiếng đất, tiếng nước, tiếng của đời sống bình dân. Nhờ vậy, tình yêu tiếng Việt không chỉ là ý thức văn hóa mà trở thành một tình cảm máu thịt.
Một bài thơ yếu thường nói thẳng quá nhiều: tôi buồn, tôi nhớ, tôi yêu, tôi đau. Cách nói ấy có thể thành thật nhưng dễ rơi vào kể lể. Thơ cần hình ảnh để cảm xúc có độ vang. Xuân Quỳnh là nhà thơ rất giỏi dùng hình ảnh đời thường để diễn tả những bất ổn bên trong tâm hồn. Trong thơ chị có biển, thuyền, sóng, gió, hoa cỏ may, bàn tay, ngọn lửa, con đường, mái nhà, trẻ thơ. Những hình ảnh ấy không cầu kỳ nhưng giàu sức gợi. Chẳng hạn trong “Thuyền và biển”, tình yêu được dựng bằng quan hệ giữa hai hình ảnh: thuyền và biển. Thuyền cần biển để đi, biển cần thuyền để có đối thoại, có chờ đợi, có chia xa. Từ hai hình ảnh ấy, cả một tứ thơ về sự gắn bó và bất an trong tình yêu được hình thành.
Lưu Quang Vũ lại thường chọn những hình ảnh có sức mở rộng suy tưởng: khu vườn, thành phố, ngọn gió, bầu trời, tiếng Việt, những con người lao động, những vật nhỏ bé trong đời sống. Hình ảnh trong thơ ông thường không đứng yên mà mang tâm trạng thời đại. Đọc thơ Lưu Quang Vũ, ta thấy nhiều hình ảnh tưởng bình thường nhưng phía sau là một nỗi khát khao sống thật, sống đẹp, sống có trách nhiệm.
Tứ thơ là ý tưởng nghệ thuật trung tâm của bài thơ, là cách nhà thơ tổ chức cảm xúc, hình ảnh và suy tưởng thành một chỉnh thể. Một tứ thơ hay thường bắt đầu từ một hình ảnh có khả năng phát triển. Trong “Sóng”, Xuân Quỳnh chọn hình ảnh sóng làm hạt nhân. Từ sóng ngoài biển, bài thơ chuyển sang sóng trong lòng người phụ nữ đang yêu. Sóng có trạng thái, có hành trình, có câu hỏi, có khát vọng ra khơi, có nỗi nhớ ngày đêm. Như vậy, hình ảnh sóng không chỉ xuất hiện một lần mà chi phối toàn bộ cấu trúc bài thơ. Đó là một ví dụ rất rõ về việc chọn đúng hình ảnh để dựng tứ thơ.
Trong thơ Lưu Quang Vũ, bài “Tiếng Việt” cũng có thể xem là một tứ thơ được dựng từ hình ảnh tiếng nói dân tộc. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà là nơi lưu giữ ký ức, tình mẹ, lịch sử, nhân dân, vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam. Từ một đối tượng tưởng như trừu tượng, nhà thơ triển khai thành một không gian hình ảnh rộng lớn. Nhờ đó, bài thơ có chiều sâu văn hóa và cảm xúc.
Chọn hình ảnh quyết định giọng điệu và phong cách thơ
Mỗi nhà thơ có một “vùng hình ảnh” riêng. Nhìn vào hệ thống hình ảnh, ta có thể nhận ra phong cách của họ. Xuân Quỳnh thường chọn những hình ảnh gần gũi với đời sống nữ tính và đời sống gia đình làm nên giọng thơ vừa dịu dàng vừa khắc khoải. Thơ chị không ồn ào triết lý nhưng rất sâu vì mọi suy tư đều đi qua cảm xúc cụ thể của một trái tim phụ nữ nhiều yêu thương và lo âu.
Lưu Quang Vũ lại có hệ hình ảnh rộng hơn, nhiều khi gắn với xã hội, đất nước, ngôn ngữ, thành phố, những biến động tinh thần của con người thời hiện đại. Hình ảnh trong thơ ông thường có sắc thái suy tưởng mạnh. Ông không chỉ nhìn sự vật bằng cảm xúc cá nhân mà còn đặt chúng trong những câu hỏi lớn hơn về nhân phẩm, sự thật, cái đẹp và trách nhiệm sống. Có thể nói, Xuân Quỳnh thường làm cho hình ảnh ấm lên từ trái tim, còn Lưu Quang Vũ thường làm cho hình ảnh sáng lên từ suy tưởng. Một bên nghiêng về bản năng yêu thương, một bên nghiêng về thao thức trí tuệ, nhưng cả hai đều chứng minh rằng thơ hay không thể thiếu hình ảnh sống động. Hình ảnh phải vừa thật vừa có khả năng nâng lên thành biểu tượng.
Một điều rất quan trọng, hình ảnh giúp thơ tránh khô cứng khi có suy tưởng. Thơ không chỉ có cảm xúc mà còn có tư tưởng. Nhưng tư tưởng trong thơ nếu trình bày trực tiếp quá dễ thành diễn văn. Hình ảnh giúp tư tưởng trở nên mềm mại và giàu sức thuyết phục. Lưu Quang Vũ là ví dụ rõ rệt. Ông là người thơ nhiều suy tư, nhiều câu hỏi về con người và xã hội. Nhưng thơ ông không chỉ là những mệnh đề lý trí, bởi ông biết đặt suy tưởng vào hình ảnh. Khi viết về tiếng Việt, ông không chỉ khẳng định tiếng Việt đẹp, tiếng Việt quý, mà làm cho vẻ đẹp ấy hiện ra trong đời sống cụ thể. Khi viết về con người, ông thường nhìn con người trong những cảnh huống sống động, trong ký ức, chiến tranh, tình yêu và khát vọng.
Xuân Quỳnh cũng có nhiều suy tưởng sâu, thường ẩn trong hình ảnh tình yêu và đời sống gia đình. Trong “Sóng”, câu hỏi về nguồn gốc tình yêu được đặt ra qua hình ảnh sóng và gió. Chính nhờ hình ảnh, triết lý tình yêu trở nên tự nhiên, không khô cứng. Hình ảnh trong thơ là nơi cảm xúc được cụ thể hóa, là phương tiện tạo sức gợi, là hạt nhân để dựng tứ thơ, là dấu hiệu phong cách của nhà thơ. Một bài thơ có thể bắt đầu từ cảm xúc, nhưng chỉ thật sự thành thơ khi cảm xúc ấy tìm được hình ảnh xứng đáng.
Qua thơ Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ, có thể thấy hình ảnh không chỉ làm đẹp câu thơ mà còn làm nên linh hồn bài thơ. Xuân Quỳnh chọn những hình ảnh gần gũi, nữ tính, đời thường để diễn tả tình yêu, nỗi nhớ, khát vọng hạnh phúc. Lưu Quang Vũ chọn những hình ảnh giàu suy tưởng để nói về tiếng Việt, đất nước, con người và trách nhiệm sống. Ở cả hai nhà thơ, hình ảnh đều không đứng riêng lẻ mà trở thành trung tâm tổ chức tứ thơ, vừa có cảm xúc chân thành, vừa có chiều sâu tư tưởng, vừa để lại những hình tượng bền lâu trong tâm trí người đọc. Có thể nói, nếu trong thơ Lưu Quang Vũ, hình ảnh thường mở ra những chân trời rộng lớn của tuổi trẻ và khát vọng, thì trong thơ Xuân Quỳnh, hình ảnh lại là con đường đi vào những rung động kín đáo nhất của trái tim.