1.Nhắc tới Trung Trung Đỉnh, bạn đọc nhớ tơi những tác phẩm viết về Tây Nguyên. Sinh năm 1949 tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Năm 1968, mới 19 tuổi, Phạm Trung Đỉnh nhập ngũ rồi đi một mạch vào chiến trường B3 - Tây Nguyên đúng giai đoạn ác liệt nhất. Những tháng ngày ở Tây Nguyên, ông đảm nhiệm đủ vai trò, từ lính địa phương làm nhiệm vụ vận động quần chúng ở các buôn làng, cán bộ nằm vùng cơ sở, nhân viên chiếu bóng, thậm chí cả nhân viên y tế bất đắc dĩ khi y tá đơn vị hy sinh.
Nhưng chính những trải nghiệm thực tế làm lính ở mặt trận B3 ác liệt, gian khổ ấy đã góp phần biến anh lính bộ binh Phạm Trung Đỉnh thành nhà văn quân đội Trung Trung Đỉnh, bởi Tây Nguyên trở thành đề tài quen thuộc nhất đối với văn chương của ông.
Trung Trung Đỉnh tự nhận mình là người kiệm lời, ít khi nói trước đám đông. Cuộc đời ông cũng đã đi qua nhiều biến động, phần nhiều, mọi sự đến với ông đều rất tình cờ. Ông kể: "Tôi là con của một ông đồ, lớn lên ở vùng Hải Hậu, Nam Định. Cuộc đời tôi phần lớn đều do tình cờ, đi bộ đội là tình cờ, đi Tây Nguyên cũng tình cờ và viết văn cũng thế. Hồi ở trong rừng đánh nhau, vớ được chiếc máy chữ, không biết dùng đâu, nhưng rồi tự mò mẫm học mà đánh được. Tôi đã viết những trang đầu tiên trên chiếc máy chữ ấy".
Tình yêu với Tây Nguyên không chỉ được hun đúc từ những năm tháng chiến đấu mà còn được bồi đắp qua sự quan sát và trải nghiệm thường ngày. Ông kể: "Những đêm xuống các buôn làng làm việc với cơ sở nằm vùng, tìm thấy trong nhà dân có sách báo gì tôi cũng vơ cuộn thành cuộn đem về chỗ trú quân đọc. Từ kinh Phật đến tạp chí văn học, cứ vớ được gì là tôi đọc không sót chữ nào".
Năm 1972, khi đang công tác tại Huyện đội Khu 8 (An Khê, Gia Lai), Trung Trung Đỉnh ra mắt truyện ngắn đầu tay "Những khấc coong chung" in trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, do nhà văn Nguyễn Chí Trung phụ trách.
"Những khấc coong chung" là câu chuyện về các chiến sĩ bộ đội địa phương và nhóm du kích người Ba Na cùng nhau thi đua: Mỗi trận đánh, diệt được một tên Mỹ sẽ khấc một khấc vào chiếc vòng trên tay mình và chỉ khi nào những vết khấc trên chiếc vòng đó đầy mới về phép. Nhà văn đã tái hiện những hành động đầy mưu trí và dũng cảm của họ để giành chiến thắng trước quân Mỹ trong một trận càn. Viết xong, ông gửi ra Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ theo đường giao liên và được đăng, rồi được đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Cái tên Trung Trung Đỉnh đề dưới tác phẩm có thể do gõ máy chữ nhầm nhưng vì thấy cũng hay hay nên ông giữ thành bút danh đến tận giờ.
Sau này, Trung Trung Đỉnh kể rằng khi ấy, đơn vị ông sống, chiến đấu và ở chung với những chiến sĩ du kích người Ba Na. Họ chiến đấu rất dũng cảm và chính họ làm nên cảm hứng cho ông viết câu chuyện này với tình cảm quý mến và khâm phục.
Tiểu thuyết "Lạc rừng" là tác phẩm tiêu biểu của ông viết về mảnh đất ngập tràn nắng gió Tây Nguyên. Tác phẩm khắc họa sinh động phong tục tập quán và sức sống mãnh liệt của người dân Ba Na và Gia Rai trong chiến tranh chống Mỹ. Ra đời năm 1999, đến nay tiểu thuyết đã được tái bản 20 lần, đạt giải Nhất cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998 - 2000); là một trong cụm tác phẩm được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007 và đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Ba Na. Trung Trung Đỉnh được biết đến với nhiều tác phẩm tiêu biểu như: "Tiễn biệt những ngày buồn", "Ngược chiều cái chết", "Lạc rừng", "Lính trận", "Ngõ lỗ thủng"... Ông đã được trao Giải thưởng văn học ASEAN, Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007.
2.Nhà văn Nguyễn Trọng Tín được coi là "nhà văn Sơn Nam đời mới" bởi những trang viết đặc sắc về Nam Bộ. Nguyễn Trọng Tín đến với văn chương như một cơ duyên từ những ngày làm cán bộ Đoàn ở đất mũi Cà Mau. Ở xứ đất mũi thời chiến tranh chống Mỹ, việc một cán bộ Đoàn cầm súng cũng giống như các cán bộ dân sự thời ấy. Bởi đã "ra cứ" thì trước hết phải làm chiến sĩ, làm người lính đúng nghĩa rồi mới thực hiện được nhiệm vụ của mình.
Văn Nguyễn Trọng Tín lôi cuốn bởi một chất giọng Nam Bộ lạ, mộc mạc, dân dã nhưng vô cùng tinh tế, ông không lạm dụng phương ngữ mà dùng chính cái hồn cốt nồng hậu để chạm đến trái tim độc giả. Gia tài sáng tác của ông đa dạng từ thơ đến truyện ngắn, nổi bật nhất là tiểu thuyết "Bè Trầm" tác phẩm ghi dấu trong văn học hậu chiến khi khắc họa sâu sắc đời sống người lính sau ngày đất nước thống nhất.
"Bè Trầm" là câu chuyện giản dị, hồn nhiên về mấy người lính thương binh sau cuộc chiến ở một trại thương binh nặng: Mỗi anh mất một thứ và anh nọ bù anh kia. Họ sống hồn hậu, tự nhiên, không mặc cảm về sự mất mát của mình, nhưng họ rất ý thức được cuộc sống khó khăn trước mắt. Họ tự lực để vươn lên hơn là trông vào sự nâng đỡ của người thân. Sức mạnh của niềm vui và nỗi buồn được họ lạc quan hóa, tạo nên vẻ đẹp chất phác khiến người đọc tự nhận thức được trách nhiệm của mình…
Trong "Thời tiết của ký ức", độc giả có dịp đọc lại tác phẩm "Bè trầm", một lát cắt ký ức giàu dư âm thời cuộc.
3.Cũng là một người lính đi qua chiến tranh, Phạm Ngọc Tiến đến với văn chương như sự sắp đặt của số phận.
Phạm Ngọc Tiến nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của một người quan sát tận tụy, luôn đào sâu vào những góc khuất của số phận để tìm thấy ánh sáng lấp lánh của tình người. Không chỉ thành danh ở mảng tiểu thuyết với những tác phẩm như "Tàn đen đốm đỏ", "Đợi mặt trời", "Những sinh linh bé bỏng",... ông còn là "linh hồn" đứng sau những thước phim truyền hình đi vào lòng người như: "Chuyện làng Nhô", "Đất và người", "Ma làng", "Gió làng Kình", "Sinh tử"... Sức sáng tạo bền bỉ ấy là minh chứng rõ nét cho một cá tính văn chương chưa bao giờ ngừng nghỉ trước những biến động của thời cuộc.
Sinh thời, nhà văn Lê Lựu đã dành cho ông những lời trân trọng hiếm có khi cho rằng "chỉ có Phạm Ngọc Tiến mới thực sự biết "viết văn". Văn của ông gồm đủ bi ai thống khổ, chứa đựng chiều sâu vô tận của kiếp người trong dằng dặc mưu sinh.
Phạm Ngọc Tiến hóm hỉnh chia sẻ rằng: "Đời tôi cái gì cũng muộn, viết muộn, lấy vợ muộn. Hồi nhỏ tôi cũng có những ước mơ, nhưng tôi cho rằng, trong cuộc đời, muốn thực hiện được điều gì đó phải có những biến cố. Năm 16 tuổi, tôi khai tăng tuổi để nhập ngũ, và đi một lèo đến ngày 30/4/1975. Nhờ chiến tranh tôi mới trưởng thành. Trong chiến trường, 18 tuổi tôi đã viết nhiều thơ, trường ca, viết kịch, vừa là đạo diễn, tác giả, diễn viên chính. Trở về sau chiến tranh, sự nghiệp sáng tác gián đoạn do gia cảnh nhà tôi khổ quá.
Năm 1984, tôi bắt đầu viết trở lại, bằng truyện cực ngắn, truyện ngắn, chuẩn bị rất công phu và gửi đi thi. Truyện đầu tiên được giải Nhì của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau đó, tôi thi tiếp ở báo Văn nghệ. Chỉ bằng 2 truyện ngắn đó mà tôi gây được uy tín, các báo lớn đều đặt và đăng tác phẩm của tôi. Năm 1996, tôi đầu quân cùng nhà văn Thuỳ Linh viết kịch bản phim truyền hình cho VFC. Đến tuổi này, điều thôi thúc nhất đối với tôi là văn chương. Viết văn phải có năng khiếu và khao khát đam mê viết. Trong tôi luôn có những khao khát kỳ lạ, tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi, trăn trở. Con đường văn chương thênh thang, nhiều người đi, tôi đi kiểu người say, nhưng lại chọn được đúng cách để tồn tại trong thế giới văn chương khốc liệt này".
4.Dù mỗi người đến với văn chương một cách riêng, nhưng chính tình yêu văn chương đã thôi thúc họ cầm bút, trong chiến tranh ngặt nghèo, trong đói khổ vất vả… họ vẫn viết. Từ quan niệm viết đến những kỷ niệm nghề văn, mỗi chia sẻ của họ đều cho thấy bản lĩnh của một người viết, sự dấn thân và tình yêu bền bỉ với văn chương.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ: "Lịch sử có thể bị biến đổi ở một thời điểm nào đó, nhưng ký ức của dân tộc thì không thể thay đổi. Các nhà văn là những người lưu giữ ký ức của dân tộc trong một thời đại, một giai thoại, một số phận, một viễn cảnh hay một điều gì đó. Chính bởi không thể bị thay đổi, ký ức luôn sống động trong từng trang viết của họ ở thực tại. Họ đến từ nhiều vùng quê khác nhau, làm những công việc khác nhau, nhưng điều đưa họ lại gần nhau chính là văn chương. Nhưng đó là thứ văn chương độc bản, không bị trộn lẫn".
Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân