Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

1.Nhắc tới Trung Trung Đỉnh, bạn đọc nhớ tơi những tác phẩm viết về Tây Nguyên. Sinh năm 1949 tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Năm 1968, mới 19 tuổi, Phạm Trung Đỉnh nhập ngũ rồi đi một mạch vào chiến trường B3 - Tây Nguyên đúng giai đoạn ác liệt nhất. Những tháng ngày ở Tây Nguyên, ông đảm nhiệm đủ vai trò, từ lính địa phương làm nhiệm vụ vận động quần chúng ở các buôn làng, cán bộ nằm vùng cơ sở, nhân viên chiếu bóng, thậm chí cả nhân viên y tế bất đắc dĩ khi y tá đơn vị hy sinh.

Nhưng chính những trải nghiệm thực tế làm lính ở mặt trận B3 ác liệt, gian khổ ấy đã góp phần biến anh lính bộ binh Phạm Trung Đỉnh thành nhà văn quân đội Trung Trung Đỉnh, bởi Tây Nguyên trở thành đề tài quen thuộc nhất đối với văn chương của ông.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương -0
Từ trái sang: Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên và 3 nhà văn: Phạm Ngọc Tiến, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín tại cuộc gặp gỡ.

Trung Trung Đỉnh tự nhận mình là người kiệm lời, ít khi nói trước đám đông. Cuộc đời ông cũng đã đi qua nhiều biến động, phần nhiều, mọi sự đến với ông đều rất tình cờ. Ông kể: "Tôi là con của một ông đồ, lớn lên ở vùng Hải Hậu, Nam Định. Cuộc đời tôi phần lớn đều do tình cờ, đi bộ đội là tình cờ, đi Tây Nguyên cũng tình cờ và viết văn cũng thế. Hồi ở trong rừng đánh nhau, vớ được chiếc máy chữ, không biết dùng đâu, nhưng rồi tự mò mẫm học mà đánh được. Tôi đã viết những trang đầu tiên trên chiếc máy chữ ấy".

Tình yêu với Tây Nguyên không chỉ được hun đúc từ những năm tháng chiến đấu mà còn được bồi đắp qua sự quan sát và trải nghiệm thường ngày. Ông kể: "Những đêm xuống các buôn làng làm việc với cơ sở nằm vùng, tìm thấy trong nhà dân có sách báo gì tôi cũng vơ cuộn thành cuộn đem về chỗ trú quân đọc. Từ kinh Phật đến tạp chí văn học, cứ vớ được gì là tôi đọc không sót chữ nào".

Năm 1972, khi đang công tác tại Huyện đội Khu 8 (An Khê, Gia Lai), Trung Trung Đỉnh ra mắt truyện ngắn đầu tay "Những khấc coong chung" in trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, do nhà văn Nguyễn Chí Trung phụ trách.

"Những khấc coong chung" là câu chuyện về các chiến sĩ bộ đội địa phương và nhóm du kích người Ba Na cùng nhau thi đua: Mỗi trận đánh, diệt được một tên Mỹ sẽ khấc một khấc vào chiếc vòng trên tay mình và chỉ khi nào những vết khấc trên chiếc vòng đó đầy mới về phép. Nhà văn đã tái hiện những hành động đầy mưu trí và dũng cảm của họ để giành chiến thắng trước quân Mỹ trong một trận càn. Viết xong, ông gửi ra Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ theo đường giao liên và được đăng, rồi được đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Cái tên Trung Trung Đỉnh đề dưới tác phẩm có thể do gõ máy chữ nhầm nhưng vì thấy cũng hay hay nên ông giữ thành bút danh đến tận giờ.

Sau này, Trung Trung Đỉnh kể rằng khi ấy, đơn vị ông sống, chiến đấu và ở chung với những chiến sĩ du kích người Ba Na. Họ chiến đấu rất dũng cảm và chính họ làm nên cảm hứng cho ông viết câu chuyện này với tình cảm quý mến và khâm phục.

Tiểu thuyết "Lạc rừng" là tác phẩm tiêu biểu của ông viết về mảnh đất ngập tràn nắng gió Tây Nguyên. Tác phẩm khắc họa sinh động phong tục tập quán và sức sống mãnh liệt của người dân Ba Na và Gia Rai trong chiến tranh chống Mỹ. Ra đời năm 1999, đến nay tiểu thuyết đã được tái bản 20 lần, đạt giải Nhất cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998 - 2000); là một trong cụm tác phẩm được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007 và đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Ba Na. Trung Trung Đỉnh được biết đến với nhiều tác phẩm tiêu biểu như: "Tiễn biệt những ngày buồn", "Ngược chiều cái chết", "Lạc rừng", "Lính trận", "Ngõ lỗ thủng"... Ông đã được trao Giải thưởng văn học ASEAN, Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007.

2.Nhà văn Nguyễn Trọng Tín được coi là "nhà văn Sơn Nam đời mới" bởi những trang viết đặc sắc về Nam Bộ. Nguyễn Trọng Tín đến với văn chương như một cơ duyên từ những ngày làm cán bộ Đoàn ở đất mũi Cà Mau. Ở xứ đất mũi thời chiến tranh chống Mỹ, việc một cán bộ Đoàn cầm súng cũng giống như các cán bộ dân sự thời ấy. Bởi đã "ra cứ" thì trước hết phải làm chiến sĩ, làm người lính đúng nghĩa rồi mới thực hiện được nhiệm vụ của mình.

Văn Nguyễn Trọng Tín lôi cuốn bởi một chất giọng Nam Bộ lạ, mộc mạc, dân dã nhưng vô cùng tinh tế, ông không lạm dụng phương ngữ mà dùng chính cái hồn cốt nồng hậu để chạm đến trái tim độc giả. Gia tài sáng tác của ông đa dạng từ thơ đến truyện ngắn, nổi bật nhất là tiểu thuyết "Bè Trầm" tác phẩm ghi dấu trong văn học hậu chiến khi khắc họa sâu sắc đời sống người lính sau ngày đất nước thống nhất.

"Bè Trầm" là câu chuyện giản dị, hồn nhiên về mấy người lính thương binh sau cuộc chiến ở một trại thương binh nặng: Mỗi anh mất một thứ và anh nọ bù anh kia. Họ sống hồn hậu, tự nhiên, không mặc cảm về sự mất mát của mình, nhưng họ rất ý thức được cuộc sống khó khăn trước mắt. Họ tự lực để vươn lên hơn là trông vào sự nâng đỡ của người thân. Sức mạnh của niềm vui và nỗi buồn được họ lạc quan hóa, tạo nên vẻ đẹp chất phác khiến người đọc tự nhận thức được trách nhiệm của mình…

Trong "Thời tiết của ký ức", độc giả có dịp đọc lại tác phẩm "Bè trầm", một lát cắt ký ức giàu dư âm thời cuộc. 

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương -0

3.Cũng là một người lính đi qua chiến tranh, Phạm Ngọc Tiến đến với văn chương như sự sắp đặt của số phận.

Phạm Ngọc Tiến nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của một người quan sát tận tụy, luôn đào sâu vào những góc khuất của số phận để tìm thấy ánh sáng lấp lánh của tình người. Không chỉ thành danh ở mảng tiểu thuyết với những tác phẩm như "Tàn đen đốm đỏ", "Đợi mặt trời", "Những sinh linh bé bỏng",... ông còn là "linh hồn" đứng sau những thước phim truyền hình đi vào lòng người như: "Chuyện làng Nhô", "Đất và người", "Ma làng", "Gió làng Kình", "Sinh tử"... Sức sáng tạo bền bỉ ấy là minh chứng rõ nét cho một cá tính văn chương chưa bao giờ ngừng nghỉ trước những biến động của thời cuộc.

Sinh thời, nhà văn Lê Lựu đã dành cho ông những lời trân trọng hiếm có khi cho rằng "chỉ có Phạm Ngọc Tiến mới thực sự biết "viết văn". Văn của ông gồm đủ bi ai thống khổ, chứa đựng chiều sâu vô tận của kiếp người trong dằng dặc mưu sinh.

Phạm Ngọc Tiến hóm hỉnh chia sẻ rằng: "Đời tôi cái gì cũng muộn, viết muộn, lấy vợ muộn. Hồi nhỏ tôi cũng có những ước mơ, nhưng tôi cho rằng, trong cuộc đời, muốn thực hiện được điều gì đó phải có những biến cố. Năm 16 tuổi, tôi khai tăng tuổi để nhập ngũ, và đi một lèo đến ngày 30/4/1975. Nhờ chiến tranh tôi mới trưởng thành. Trong chiến trường, 18 tuổi tôi đã viết nhiều thơ, trường ca, viết kịch, vừa là đạo diễn, tác giả, diễn viên chính. Trở về sau chiến tranh, sự nghiệp sáng tác gián đoạn do gia cảnh nhà tôi khổ quá.

Năm 1984, tôi bắt đầu viết trở lại, bằng truyện cực ngắn, truyện ngắn, chuẩn bị rất công phu và gửi đi thi. Truyện đầu tiên được giải Nhì của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau đó, tôi thi tiếp ở báo Văn nghệ. Chỉ bằng 2 truyện ngắn đó mà tôi gây được uy tín, các báo lớn đều đặt và đăng tác phẩm của tôi. Năm 1996, tôi đầu quân cùng nhà văn Thuỳ Linh viết kịch bản phim truyền hình cho VFC. Đến tuổi này, điều thôi thúc nhất đối với tôi là văn chương. Viết văn phải có năng khiếu và khao khát đam mê viết. Trong tôi luôn có những khao khát kỳ lạ, tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi, trăn trở. Con đường văn chương thênh thang, nhiều người đi, tôi đi kiểu người say, nhưng lại chọn được đúng cách để tồn tại trong thế giới văn chương khốc liệt này".

4.Dù mỗi người đến với văn chương một cách riêng, nhưng chính tình yêu văn chương đã thôi thúc họ cầm bút, trong chiến tranh ngặt nghèo, trong đói khổ vất vả… họ vẫn viết. Từ quan niệm viết đến những kỷ niệm nghề văn, mỗi chia sẻ của họ đều cho thấy bản lĩnh của một người viết, sự dấn thân và tình yêu bền bỉ với văn chương.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ: "Lịch sử có thể bị biến đổi ở một thời điểm nào đó, nhưng ký ức của dân tộc thì không thể thay đổi. Các nhà văn là những người lưu giữ ký ức của dân tộc trong một thời đại, một giai thoại, một số phận, một viễn cảnh hay một điều gì đó. Chính bởi không thể bị thay đổi, ký ức luôn sống động trong từng trang viết của họ ở thực tại. Họ đến từ nhiều vùng quê khác nhau, làm những công việc khác nhau, nhưng điều đưa họ lại gần nhau chính là văn chương. Nhưng đó là thứ văn chương độc bản, không bị trộn lẫn".

Việt Linh

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.