Tiểu thư Ngọc Hương sáng nay tỉnh giấc sớm hơn thường lệ. Nàng bước ra vườn, tiếng chim buổi sáng hót ríu ran, mùi hoa ngọc lan thoang thoảng. Hướng mắt về phía thư phòng của cha, Ngọc Hương nhận thấy cửa sổ thư phòng đang sáng đèn.
Nghĩ vậy. Vả lại tiểu thư cũng lo cha mình vì mải việc mà không tốt cho sức khỏe. Từ đầu năm trở lại đây, nghĩa là khi bước vào tuổi bảy mươi, sức khỏe quan Tể tướng Phạm Công Trứ có chiều không tốt. Nàng thấy cha có gì đấy luôn vồi vội, có hôm còn thấy cha mình sau buổi thiết triều trở về dinh mà bước chân nặng trĩu. Tiểu thư Ngọc Hương mấy lần toan hỏi sau lại thôi. Nàng biết tính của cha, cha nàng xưa nay thường không thích vợ con hay gia nhân trong dinh khuyên giải mình về việc giữ gìn sức khỏe. Tính của quan Tể tướng là vậy, ngài chỉ biết lo cho người chứ không muốn phiền người khác, nhất là chuyện người khác tỏ ý lo lắng cho mình.
Tiểu thư Ngọc Hương dừng lâu lâu trước cửa thư phòng. Nàng đến thật nhẹ nhàng, chỉ hơi nghiêng đầu ghé nhìn qua khe cửa. Tể tướng Phạm Công Trứ vẫn chăm chú ngồi trước bàn sách. Bất chợt tiểu thư Ngọc Hương thấy trong lòng có chút lo ngại. Rõ ràng chiều tối hôm qua, trước khi trở về phòng mình, chính tay nàng đã mang cây nến mới vừa châm lửa đến đặt trên bàn sách. Cây nến cao bằng chiếc đũa ăn giờ đã cháy gần hết. Nó chỉ còn một mẩu nhỏ cháy chập chờn trên chiếc đĩa sứ.
“Vậy là cha mình đã thức suốt đêm qua?”. Tiểu thư Ngọc Hương lo lắng thực sự. Nàng ý tứ đánh động rồi khẽ tay gõ cửa. Tể tướng Phạm Công Trứ chỉ hơi ngước mắt lên khi thấy cô con gái yêu lấp ló trước cửa. Tể tướng dừng tay viết, ngài phẩy nhẹ ý ra hiệu cho cô con gái yêu ngồi xuống ghế đối diện với bàn sách.
Cây nến cũng vừa cháy hết. Ngọn khói cuối cùng bốc lên khen khét. Tể tướng Phạm Công Trứ húng hắng ho, ngài đưa bàn tay vừa buông bút lên che miệng. Tiểu thư Ngọc Hương vội nói: “Để con lấy cho cha chút nước”. Nói rồi Ngọc Hương toan đứng dậy đi lấy nước nhưng cái phẩy tay dứt khoát của Tể tướng Phạm Công Trứ đã ngầm cho nàng biết là cha mình ý nói không cần.
Tiểu thư Ngọc Hương ngồi yên lặng, nàng chăm chú nhìn vào nét mặt của cha. Hình như suốt cả đêm qua Tể tướng Phạm Công Trứ đã thức trọn đêm để cố viết xong một bản gì đó. Ngọc Hương thấy cha mình đã buông cây bút lông, nghiên mực cũng đã cạn, cuốn sách mở ở trang cuối. Ngọc Hương đánh bạo hỏi:
- Đêm qua cha đã thức để viết xong cuốn sách này?
Tể tướng Phạm Công Trứ nghe con gái hỏi thế thì rạng rỡ trên nét mặt. Chứng tỏ cuốn sách không chỉ được viết xong mà nó chừng như làm Tể tướng Phạm Công Trứ thấy hài lòng. Ngài nhìn con gái và nói:
- Đây là cuốn “Những điều giáo hóa” mà có lần cha đã nói với con đấy. Đêm qua cha đã viết xong nó.
- Chắc là cha hài lòng?
- Cha cũng còn chưa ưng ý lắm. Nhưng về cơ bản cha hài lòng về những điều cha đã viết.
Nói rồi Tể tướng Phạm Công Trứ cầm lấy cuốn sách và giơ lên. Ngài mở một trang bất kỳ rồi đọc khẽ.
- “Làm tôi hết lòng trung. Làm con giữ đạo hiếu. Anh em hoà thuận nhau”. Con thấy cha viết như thế có đúng không?
Xưa nay, Tể tướng Phạm Công Trứ luôn dành sự ưu ái cho cô con gái duy nhất của mình. Một phần cũng bởi khi năm mươi ba tuổi ngài mới sinh cô. Một phần cũng vì Ngọc Hương khá thông minh và sáng dạ. Sự thông minh sáng dạ của cô con gái yêu này đã giúp hai cha con họ hay đàm đạo cùng nhau. Đã giúp hai cha con họ luôn tôn trọng ý kiến của nhau.
Còn nhớ có hôm từ triều trở về, Tể tướng Phạm Công Trứ thấy gia nhân chạy tới ghé tai nói thầm. Người gia nhân đó cho hay có một người khách Nhật Bản làm nghề buôn bán xin tới yết kiến. Tể tướng Phạm Công Trứ ban đầu bảo gia nhân ra báo cho vị lái buôn người Nhật Bản ấy là ông hôm nay hơi mệt nên từ chối tiếp khách. Gia nhân chạy ra cổng rồi lại chạy về:
- Bẩm đại quan. Vị khách lái buôn Nhật Bản ấy bảo phải đi chặng đường vượt biển xa xôi, gặp nhiều sóng dữ. Nay đã đến cổng dinh rồi lẽ nào quan Tể tướng không thương tình mà cho gặp.
Nghe người gia nhân nói lại như vậy nên Tể tướng Phạm Công Trứ cũng nể lòng, ngài bảo:
- Thôi được. Người ta từ phương xa lặn lội tới tận cổng dinh ta. Ta không tiếp cũng không tiện. Ngươi ra mời vị khách lái buôn Nhật Bản ấy vào phòng khách. Ta thay chiếc áo cho chỉnh tề rồi ra tiếp ngay.
Vị lái buôn người Nhật Bản ấy theo chân gia nhân bước vào phòng khách, ông ta còn mang theo bốn chiếc hòm lớn. Một hòm đựng đầy vàng. Hai hòm đựng chật lụa là gấm vóc và hòm kia đựng những chiếc thống hoa vô cùng quý giá. Người lái buôn Nhật Bản nói rằng:
- Thưa đại quan. Tệ khách lần này tới nước Đại Việt của đại quan. Trước là thăm thú sau là muốn nhờ đại quan mở lòng giúp cho.
- Ngài là thương gia. Ta là mệnh quan triều đình. Không biết có giúp được gì cho khách đây?
- Thưa đại quan. Cũng chẳng nhiều nhặn gì. Đây chỉ là chút quà nhỏ thần mang từ nước mình tới. Gọi là chút quà làm thân mà thôi.
Tể tướng Phạm Công Trứ chau mày, ngài đứng dậy xua tay:
- Khách cho người mang những chiếc hòm này đi. Ta không nhận đâu.
Vị khách lái buôn Nhật Bản vội rời ghế ngồi rồi quỳ xuống:
- Đại quan không nhận. Lẽ nào không cho chúng tôi cơ hội được làm ăn với người Đại Việt?
- Việc làm ăn thông thương giữa Đại Việt ta và nước Nhật Bản của khách Triều đình ta đâu có cấm đoán hay hạn chế gì. Ta nhận hóa chẳng ra là vì thế mới có chuyện thương nhân hai nước mới được bang giao sao? Khách nên cho người mang những chiếc hòm này đi. Để đây không tiện cho ta.
Vị khách lái buôn Nhật Bản còn quỳ năn nỉ thêm vài ba lần nữa nhưng Tể tướng Phạm Công Trứ cương quyết bắt mang đi. Bất đắc dĩ vị khách lái buôn Nhật Bản đành gọi sai nha tới mang bốn chiếc hòm đi. Trước khi chào ra về, vị lái buôn đó còn chùng chình, người ấy đến gần Tể tướng Phạm Công Trứ nói nhỏ:
- Chúng tôi vẫn đợi đại quan nghĩ lại.
Tiễn khách ra về xong, Tể tướng Phạm Công Trứ bước về thư phòng. Dường như ngài không vui. Vừa hay tiểu thư Ngọc Hương ngang qua. Tể tướng Phạm Công Trứ vẫy tay:
- Con lại đây cha muốn hỏi chuyện.
Tiểu thư Ngọc Hương bước vào thư phòng. Nàng chăm chú nghe cha mình kể lại câu chuyện vừa rồi. Nghe xong, tiểu thư Ngọc Hương thưa:
- Thưa cha. Người ta là khách quý từ xa tới, vì lòng mến nghĩa nên có chút quà, sao cha không nhận chút gọi là tránh để người khách phật ý.
Tể tướng Phạm Công Trứ nghiêm mặt nói:
- Con gái của ta ơi. Con nói vậy cũng có lý đúng. Ở đời ai mà chê của cải. Nay hắn là người ngoại quốc tới nước ta tính chuyện thương giao. Mà chuyện thương giao từ lâu triều đình luôn rộng cửa. Nay chỉ vì hắn là người mới tới, nếu ta nhận của cải của hắn, tất sẽ mất thể thống nước nhà.
Trầm ngâm đôi chút, Tể tướng Phạm Công Trứ nói tiếp:
- Hơn nữa ta nhận thì sẽ để lại cho con tiếng xấu.
Tiểu thư Ngọc Hương thấy cha mình nói có tình có lý. Nàng vốn giống tính cha mình nên cũng không thích vì chuyện gì đó mà không những cha mình mang tiếng xấu mà ngay bản thân mình cũng vạ theo tiếng xấu ấy.
- Thưa cha. Những lời cha dạy con xin lắng nghe.
Tể tướng Phạm Công Trứ gật đầu tỏ thái độ hài lòng về cô con gái của mình. Tuy nó còn trẻ dại nhưng khi được nghe lời tốt thì cũng hiểu ra ngay.
- Ta là mệnh quan của triều đình. Được triều đình trả lương bộc. Con thấy đấy, nhà mình có thiếu gì đâu. Nhận thêm chút quà cũng chẳng sang hơn chút nào. Không nhận lại thấy lòng thanh thản.
Tiểu thư Ngọc Hương cười thành tiếng giòn tan. Mắt nàng nhìn cha đầy ngưỡng mộ. Nàng biết, cha mình tuy làm quan tới chức Tể tướng nhưng chi tiêu mọi việc trong nhà đều dựa vào lương bổng chứ không hề có thứ nào khác. Nàng biết, việc chi tiêu cũng hết sức thanh bạch, hết sức kiệm ước.
- Con nhớ lần cách đây chưa lâu...
- Con gái yêu của ta. Con nhớ chuyện gì?
Tiểu thư Ngọc Hương khẽ sửa lại tư thế ngồi. Động tác ấy chứng tỏ nàng cũng có chút ngại ngần.
- Con cứ nói. Ta đang nghe.
- Thưa cha. Con nhớ có lần Đức vua Lê Anh Tông hay chuyện chi tiêu tằn tiện của nhà ta nên đức vua đã ban cho phép các khoản thu phạt từ các xứ được bao nhiêu thì quan Tể tướng được sử dụng một phần.
- Con nói thì cha mới nhớ. Chuyện Đức Vua ưu ái ta cũng là vì Đức Vua muốn ta có được sự hưởng nhàn sau những gì vất vả.
Tể tướng Phạm Công Trứ ngừng đôi chút.
- Việc ta cống hiến cho triều đình là lẽ thần dân. Có gì đâu mà đòi được hưởng nhàn.
- Thưa cha đúng vậy ạ.
- Nếu ai làm quan cũng đòi hưởng nhàn thì dân biết dựa vào đâu.
Lần ấy Tể tướng Phạm Công Trứ không làm theo ban dụ của Đức Vua Lê Anh Tông. Dĩ nhiên ngài cũng chẳng dám không theo ý vua. Tể tướng Phạm Công Trứ sai người nhà chuẩn bị một chiếc hòm gỗ và đặt chiếc hòm ấy ở ngay công đường chứ không đặt ở dinh của mình. Ngài đã cho tất cả tiền thu phạt vào một chiếc hòm, ngài bảo: “Đây là tiền chuộc phạt. Chuộc phạt thì hiển nhiên là tiền của triều đình. Đã là tiền của triều đình vậy nên vợ con không ai được chi tiêu hoặc đem đi tậu ruộng”. Nghe tiểu thư Ngọc Hương nhắc lại câu nói của mình với vợ con khi trước Tể tướng Phạm Công Trứ rất hài lòng. Ngài biết vợ con mình và gia nhân trong dinh ai ai cũng chấp hành những lời ngài răn dạy.
Tiếng là quan Tể tướng đương triều nhưng dinh của Tể tướng khá khiêm nhường. Đó là một dinh nhỏ nằm ở phía đông Kinh thành. Tiểu thư Ngọc Hương có lần nghe cha mình giải thích:
- Dinh ở phía đông Kinh thành có nhiều cái hay con gái yêu ạ. Thứ nhất là được ở bên cạnh những người dân. Họ không làm quan nhưng cuộc sống của họ đã dạy ta cách làm quan nhiều lắm.
- Là những việc gì? Thưa cha.
- Ta sống gần họ. Nghe được họ nói. Thấy được họ ăn. Họ ăn uống ra sao ta đều biết. Họ sinh sống thế nào ta đều hay. Những việc đó giúp ta hiểu về họ và biết được mong muốn của họ.
Nắng đã dọi những tia nắng hình nan quạt vào thư phòng. Tể tướng Phạm Công Trứ đứng dậy. Ngài làm mấy động tác vặn người cho đỡ mỏi. Rồi lại bước tới ô cửa sổ, đưa tay đẩy cho cánh cửa sổ rộng ra. Ánh nắng soi tới tràn trề hơn. Tiểu thư Ngọc Hương cũng đứng dậy. Nàng bước đến đứng bên cạnh cha mình. Ngoài vườn, hương hoa lan tỏa thơm ngào ngạt. Tiếng chim hót ríu ran hơn.
- Thưa cha - Tiểu thư Ngọc Hương lên tiếng - Cuốn sách của cha vừa viết xong còn có những điều giáo huấn gì nữa ạ?
Tể tướng Phạm Công Trứ quay người, ngài nhìn thẳng vào mặt cô con gái yêu:
- Con đã vào tuổi cập kê. Cũng tính đến chuyện chọn cho ta một chàng rể đi là vừa.
- Thưa cha. Con muốn ở bên cha mãi mãi kia.
- Không được con gái yêu ạ. Là gái lớn thì ai cũng phải lấy chồng. Ta đã quá già rồi. Cũng mấy lần tâu với triều đình xin cho ta được nghỉ nhưng triều đình đã chấp thuận đâu.
- Thưa. Việc con lấy chồng thì có liên quan gì đến chuyện cha thôi việc triều đình?
- Có đấy con gái ạ. Triều đình thấy ta đã bảy mươi tuổi rồi mà vẫn chưa bận trông nom cháu nên nghĩ ta còn nhàn. Ta còn nhàn thì triều đình còn muốn ta làm việc cho Triều đình nữa.
Tiểu thư Ngọc Hương bật cười thành tiếng. Nàng nghĩ “Không có lẽ chuyện mình chưa lấy chồng cũng là nguyên cớ để cha mình chưa được triều đình cho nghỉ”. Đã mấy lần hai cha con tính chuyện về quê chơi ít bữa mà chưa có dịp. Quê nàng ở không xa Kinh thành là mấy. Còn nhỏ nàng hay được mẹ cho về quê chơi. Tiểu thư Ngọc Hương chợt thấy nhớ con sông Hồ Lô uốn lượn quanh bìa làng Liêu Xuyên. Có lần cha nàng đã bảo: “Dòng Hồ Lô chảy theo hình chữ “Xuyên”, tạo nên dòng tứ thủy biểu hiện sự phát tiết nhân tài của làng mình con ạ”. Ngọc Hương nghe cha giảng giải thế cũng chưa hiểu gì nhiều lắm, nàng chỉ biết làng quê của mình với dòng Hồ Lô ấy đã gợi lên nét phảng phất một vẻ đẹp huyền thoại và mơ mộng.
Một làn gió ban mai đưa tới. Làn gió mát rượi càng làm cho tiểu thư Ngọc Hương dấy lên ý nghĩ muốn được về thăm quê.
- Thưa cha. Lâu lắm rồi cha con mình chưa về thăm quê.
Câu nói của cô con gái như chạm vào điều còn băn khoăn của Tể tướng Phạm Công Trứ. Ngài đã đôi ba lần bày tỏ ý nguyện nếu được Triều đình cho nghỉ thì sẽ về quê sinh sống. Ý nghĩ ấy sáng nay như thúc vào tâm khảm quan Tể tướng nhiều hơn.
- Thưa cha. Cha chưa nói cho con nghe nốt về cuốn sách.
Như sức tỉnh sau “cơn mê” hoang hoải, Tể tướng Phạm Công Trứ quay lại bàn sách. Ngài lấy cuốn sách và mở ra đọc: “Không được cậy mạnh mà lấn áp kẻ yếu. Không được gây kiện tụng làm lợi riêng”. Tiểu thư Ngọc Hương chăm chú lắng nghe. Điều cha nàng vừa đọc nàng đã được mấy lần nghe cha mình khuyên giải. Tuy là con gái nhưng nàng cũng hiểu từng lời của cha. Những lời răn dạy ấy nàng ít nhiều đều đã chứng kiến. Đó là những lần cha nàng tiếp nhận những lá đơn kiện của dân chúng.
Những lần nhận đơn kiện của dân ấy cha nàng đều đọc rất kỹ. Quan Tể tướng còn cẩn thận ngầm sai người đi điều tra cho tỏ ngọn ngành chứ không chỉ tin theo lời lẽ trong đơn. Cha nàng đã bảo: “Người ta cực chẳng đã mới đâm đơn khiếu kiện. Nhưng nếu không chu đáo tìm hiểu kỹ thì sẽ dẫn tới sai lầm”. Cha nàng còn nói kỹ hơn: “Không được cậy quyền thế mà gửi gắm kiện tụng. Người đi thưa kiện không được thêu dệt vu oan cho người”. Nắng bừng rạng rỡ. Gió thổi tới cũng vẻ mát hơn. Tể tướng Phạm Công Trứ bảo:
- Sáng ngày hẳn rồi. Cha con mình cũng phải đi ăn chút gì cho ấm bụng.
Tể tướng Phạm Công Trứ gấp cuốn sách trên tay lại. Tiểu thư Ngọc Hương đã nhận ra dòng tựa đề ghi dòng chữ “Bốn mươi bảy điều giáo hóa dân” của cuốn sách.