Khi thơ được viết bằng ánh sáng

Trong bối cảnh đời sống nhiều nhiễu động, thơ vẫn âm thầm giữ vai trò của một nguồn năng lượng phục hồi - một thứ âm quang dịu bền, len lỏi qua những tầng mệt mỏi.

“Thơm từ nỗi đau” của Hoàng Thụy Anh (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2025) là một thi tập mà ở đó mỗi giọt nước mắt có thể hóa thành ánh sáng. Lúc này, thơ như một nghi thức hàn gắn. Nước mắt trở thành thi liệu, và thơ là một dạng quang hợp ngược. Chủ thể thơ chủ động tái cấu trúc chính mình từ những vụn vỡ. Không phải được sinh ra lần nữa, mà tự sinh ra lần nữa: “thức dậy mỗi sớm mai/ thấy mình sinh ra lần nữa” (Ngời). Chủ thể đi qua nỗi đau để đến với thơ. Rồi từ thơ, tìm lại niềm vui sống. Ở nơi này, nước mắt không chỉ rơi, mà còn bay lên. Bay thành thơ. Bay thành sen. Định dạng một người đàn bà đi qua gió sương mà vẫn giữ được mùi hương không lẫn. Và lúc ấy, cả cái sống lẫn cái viết đều sinh sắc, trong thứ ánh sáng thơm tho, tĩnh lặng và rạng rỡ của tự do: “tôi bơi trong thỏa hiệp thời gian/ nhưng sắp đặt bản thảo cuộc đời theo cách của tôi/ thênh thang ngữ âm cỏ hoa/ hoan ca lời lời nắng gió” (Định vị tôi).

1785898458258-2597889241965199336-2597889241965199336-1949a38b1417f8ca2a3ba9b78f092e7d.jpg

“Trên con đường tóc” của Trang Thanh (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2025) đi tới một tri nhận sáng trong: “này ta, nằm xuống/ mộng cũng cần nghỉ ngơi/ mộng đã dài hơn đường chân trời” (Kinh buồn). Đây không phải tiếng nói buông xuôi, mà là sự tĩnh độ. Sau khi tra xét đủ nhiều, con người cần biết thả lỏng, cần cho mộng một chỗ nghỉ, một khoảng lặng, để “nỗi đau ngọt ngào tỏa hương trên cành gai” và “tưởng tượng tóc mình viết lên mây”. Thơ viết bằng chính sự hao hụt của đời sống, và đến lượt kết tụ đời sống thành vệt sáng. Nhà thơ đi xa hơn: “tôi quyết đặt nỗi buồn của mình xuống cỏ/ nhờ đất nuôi dưỡng nó/ tôi hóa cánh chim” (Hóa kiếp). Đó là sự chuyển hóa, từ “nỗi buồn” thành “cánh chim”, từ nỗi đau thành tiếng hót. “Con đường tóc” là một con đường “mỏng mảnh”, nhưng nối dài bất tận, nơi mà nỗi đau và giấc mơ là hai mặt biện chứng, là nhiên liệu tất yếu của sống, yêu và viết.

Nếu đọc chậm “Đối thoại với bóng” của Hà Hồng Hạnh sẽ nhận ra mạch ngầm xuyên suốt thi tập là cô đơn được thăng hoa thành mỹ cảm. Cái “vỡ” trong thơ chị không tan tành mà lấp lánh như thủy tinh dưới nắng: “tháng năm mải miết gom vụn vỡ những ngày xa…/ như mảnh vỡ thủy tinh sắc nhọn” (Mảnh vỡ thủy tinh). Nỗi đau được hình tượng hóa thành “thủy tinh” - trong suốt nhưng dễ vỡ, sắc bén nhưng đẹp đẽ. Hà Hồng Hạnh không chỉ “mơ” mà còn “giải phẫu giấc mơ”, nhìn thẳng vào mảnh vỡ và dung chứa nó. Tập thơ thực chất là một hành trạng tinh thần, đi từ “bình minh thoang thoảng mùi hương khởi thủy” đến “cánh sen đang nở trong hồ” - một vòng luân hồi. Ở đó, nỗi đau, niềm cô đơn được gột rửa bằng nước mắt, và thơ trở thành nghi lễ thanh tẩy: “đóa sen cuối hạ rụng từng lớp cánh/ đến lớp cuối cùng nhẹ bẫng/ tan cùng mùi hương/ em thấy em là cánh sen đang nở trong hồ” (Cánh sen).

“Vân không” là cuộc hành hương bằng thơ của Ngô Thanh Vân qua những miền chông chênh của thân phận và tình cảm, để rồi tiếp cận trạng thái tự tại của bản thể. Thi tập mở ra bằng những truy vấn về nỗi trống rỗng hợp tan, về sự lạc lõng giữa nhân gian, nhưng đồng thời khơi gợi nơi độc giả niềm tin vào ánh sáng của thiên lương, của yêu thương, vào khả năng hàn gắn và vượt thoát một khi con người biết độ lượng với tha nhân và bản thân. Thơ trong tập thơ này như là một cách nhìn thế giới bằng ngôn từ, một tâm thái sống. Dẫu đi qua giông bão, lòng vẫn hướng về sự an nhiên, như vầng mây thảnh thơi giữa bầu trời rộng lớn. Mỗi cuộc người một hành lý hư vô. Mười ngón trắng vẫy vào mây trắng. Thì cứ nhẹ nhàng mà sống. Như vân không…

“Trầm tích thời gian” của Vân Anh là nơi mà chủ thể thơ thực hành thao tác thẩm mỹ, đó là “khâu” nỗi buồn lại để cấu tạo bản thể thi sĩ, đồng thời công bố một diễn ngôn nhân văn về lịch sử và thân phận. Câu thơ “khâu buồn làm áo che thân” không chỉ là một lời tự họa. Nó trở thành không khí bao trùm của thi tập. Vân Anh cho thấy rằng, nỗi buồn - vốn thường bị gạt ra ngoài - thực chất là một dạng năng lượng tinh thần. “Khâu buồn” là thao tác định hình cho cái vô hình, biến vết thương thành y phục, thành cõi riêng, tức là “lộ thiên trầm tích ta”.

Nếu các giọng thơ nữ kể trên đưa ta đi vào chiều sâu nội tâm, thì Hoàng Nguyên với “Những hoàng hôn” mở ra một không gian khác, với một triết lý ánh sáng mang sắc thái nam tính, bình thản mà kiên khắc. Tập thơ vừa phảng phất u hoài, vừa rạng rỡ. Nó như một khu vườn cuối chiều, trong đó mọi thứ đang chuyển sắc mà vẫn nguyên hương. Đi hết thi tập, ta như vừa đi qua một cuộc trở về. Bên ta văng vẳng tiếng thở của đất trời ải Bắc, của hoa đăng Hà thành, của muôn mặt đời thường lưu thủy hành vân, và hơn hết là của một người thơ đa mang đa cảm, luôn hướng về ánh sáng của lòng nhân, lòng trung. Nếu có thể gọi tên tinh thần của tập thơ bằng một câu, có lẽ đó là: Những hoàng hôn được viết bằng ánh sáng.

Khi thơ được viết bằng ánh sáng ảnh 2

Tên tập thơ “Dưới chân núi Tu Di” của Nguyễn Thành Hưởng không chỉ là một cách định vị không gian, mà còn là một khẳng định về nơi chốn của tâm hồn, một sự chọn lựa đứng dưới ngọn nguồn cao cả, để ngước nhìn, để thấm nhận, lắng nghe. Tập thơ đứng về phe con người, phía nỗi đau và ký ức cần được “thương”; đồng thời hướng tới một sự yên lặng có âm thanh, một sự trầm mặc có ánh sáng. Khi thế gian còn mãi xao xác, thì ở dưới chân núi Tu Di, vẫn có một người thơ đang ngồi lại, lặng yên, lắng nghe, “thương như thương nỗi đau”. Và từ sự lặng-thương ấy, thơ bung nở, như một nguồn suối tinh khiết, sáng trong, dẫn ta trở về chính cõi thẳm của mình.

Qua lược khảo một số thi tập được xuất bản gần đây kể trên, có thể nhận ra một điểm chung: mỗi nhà thơ, bất kể tuổi tác, giới tính hay bối cảnh, đều chọn ánh sáng thay vì bóng tối, chọn yên tĩnh thay vì ồn ã, chọn tự hóa giải thay vì than khóc. Sống là đặc ân, nên nói như Bertrand Russell (Nobel văn học 1950), quan trọng với chúng ta không phải là chữa lành, mà là đem theo nỗi đau và tiếp tục sống.

Thơ, vì thế, trở thành dòng năng lượng vừa mong manh vừa kiên cố. Mong manh vì được làm từ nước mắt, từ ký ức, từ những rạn vỡ tinh tế của tâm hồn. Kiên cố vì luôn hướng về phía ánh sáng của nhân tình, nhân tính - thứ ánh sáng nói như thi sĩ Trương Đăng Dung, “làm cho gương mặt ta mãi mãi là gương mặt con người”.

Đặt các thi tập trên cạnh nhau, cũng có thể nhận ra một chuyển động tinh tế của thơ Việt hôm nay, khi nỗi buồn không còn là điểm đến, mà trở thành chất xúc tác để tái thiết tinh thần. Đó là lúc thơ trở thành một dạng “mỹ học của sự phục hồi”, nơi chủ thể không chỉ kể lại vết thương, mà còn thử nghiệm cách bôi xức vết thương ấy vừa bằng “tâm quang”, vừa bằng ánh sáng ngôn từ.

HOÀNG ĐĂNG KHOA

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.