Người Việt có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”, gửi gắm khát vọng về một năm mới mặn mà tình nghĩa, đủ đầy và may mắn. Trong “Lĩnh Nam chích quái”, muối còn xuất hiện trong nghi thức hôn nhân thời Hùng Vương như vật tín đầu tiên kết nối lứa đôi: “Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau”.
Văn hóa vùng biển Quang Lang xưa thuộc xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (cũ), nay thuộc xã Thái Thụy tỉnh Hưng Yên, đã kết nên một truyền thuyết Bà chúa Muối thật ý nghĩa. Thấp thoáng sau lớp màn sương huyền thoại là bóng dáng của một nhân vật lịch sử có từ thời Trần - Đệ Tam phi Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh. Sau hơn bảy thế kỷ, hình tượng người phụ nữ ấy vẫn sống trong tâm thức cộng đồng, với tư cách một biểu tượng văn hóa cư dân vùng ven biển.
Nghề muối và một huyền thoại
Quang Lang là một trong những làng muối cổ của đồng bằng sông Hồng. Trải qua thăng trầm thời gian, nơi đây không chỉ lưu giữ nghề làm muối, còn bảo tồn nhiều lễ hội dân gian độc đáo, trong đó có Lễ hội Bà chúa Muối gắn với tục múa Ông Đùng Bà Đà. Theo truyền thuyết địa phương, Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh sinh năm Canh Thìn (1280) trong một gia đình nhiều đời làm muối. Kể rằng, một đêm người mẹ nằm mơ thấy mình nuốt ánh trăng vàng, rồi mang thai. Đứa trẻ sinh ra có dung mạo sáng đẹp như ánh trăng, nên được đặt tên là Nguyệt Ảnh. “Nuốt ánh trăng” là môtíp quen thuộc trong văn hóa phương Đông, không nhằm kể lại một sự kiện có thật, mà nhằm thiêng hóa nguồn gốc nhân vật. Dân gian thường dành những yếu tố kỳ ảo cho những người được xem là có số phận khác thường. Thế là hình tượng Nguyệt Ảnh bước vào thế giới của huyền thoại.
Nếu chỉ dừng ở truyền thuyết, Bà chúa Muối sẽ không khác nhiều những nữ thần dân gian khác. Điều đặc biệt, có nhiều tư liệu lịch sử địa phương khẳng định bà chính là Đệ Tam phi của vua Trần Anh Tông. Kể rằng, lớn lên giữa những cánh đồng muối, Nguyệt Ảnh vừa xinh đẹp, vừa chăm chỉ, nết na. Trong huyền thoại, nhân vật thiêng thường được đặt vào nghịch lý: vừa thuộc về cộng đồng, vừa vượt khỏi cộng đồng. Đến tuổi trăng tròn, mỗi lần nàng ra đồng, mây trắng tụ thành chiếc lọng lớn che trên đầu khiến muối không kết tinh được. Dân làng bèn đóng thuyền để nàng mang muối đi buôn bán nơi kinh kỳ.
Lần ấy thuyền của nàng neo gần kinh thành Thăng Long, vua Trần Anh Tông tình cờ nhìn thấy người con gái có dung nhan và phong thái khác thường, đem lòng yêu mến, rồi đưa nàng vào cung, phong làm Đệ Tam phi. Trong triều, phần lớn phi tần đều xuất thân từ các dòng họ quý tộc. Việc một cô gái làm muối được phong “phi” ngay khi mới nhập cung, là điều hiếm gặp. Đó cũng là một cách dân gian thể hiện sự ngưỡng mộ đối với tài sắc và phẩm hạnh của người phụ nữ bình dân. Nhưng lại mở đầu cho một bi kịch…
Bi kịch bắt đầu khi Tam phi mang thai. Nhiều giai thoại kể, bà bị hãm hại trong hậu cung. Mang thai đủ tháng nhưng không sinh nở được, vua Trần Anh Tông bèn đưa bà trở về quê dưỡng bệnh. Ngày ngày, Tam phi lặng lẽ buồn ngồi nhìn cánh đồng muối quê hương. Mong muốn bà vui, lũ trẻ mục đồng kết bồ cỏ thành hình người rồi nhảy múa chung quanh. Nhìn cảnh tượng ấy, bà nở nụ cười, cũng là lúc trút hơi thở cuối cùng. Ngày đó vào ngày 14 tháng Tư Âm lịch.
Trong tâm thức dân gian, đó không còn là cái chết của một cung phi bạc mệnh, mà là sự hóa thân của một người phụ nữ hiền hậu, luôn hướng về quê hương và nghề muối. Vua Trần cho lập đền thờ, truy phong làm Phúc thần. Người dân từ đó gọi bà bằng cái tên giản dị nhưng đầy kính trọng: Bà chúa Muối.
Huyền thoại và khát vọng
Không nhiều nhân vật lịch sử được dân gian lưu giữ bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo như Bà chúa Muối. Hằng năm, vào ngày 14 tháng Tư Âm lịch, người dân Quang Lang mở hội tưởng niệm bà bằng tục múa Ông Đùng Bà Đà. Những hình nộm bằng tre tượng trưng cho cha mẹ và con cái cùng đi lại vui vẻ, cười đùa nghiêng ngả, chạm vào nhau trong tiếng trống, tiếng reo vui của cộng đồng. Các hình nộm lúc quay sang phải, khi lại quay sang trái. Có những lần giáp mặt, thân chập vào nhau, tượng trưng cho ước vọng sinh sôi nảy nở, nhiều hoa lắm trái. Đùng bố mẹ đi trước, các Đùng con quấn quýt theo sau. Đoàn người nhộn nhịp vừa đi vừa chúc tụng nhau. Người ta xướng vang những câu ca ngợi công đức Bà chúa Muối.
Từ góc nhìn dân tộc học, đây là nghi lễ phồn thực tiêu biểu của cư dân nông nghiệp và cư dân biển. Sự giao hòa giữa Ông Đùng - Bà Đà tượng trưng cho âm - dương hòa hợp, cho khát vọng sinh sôi, mùa màng bội thu, cuộc sống sung túc, đủ đầy. Cuối hội là tục phá Đùng. Người ta tranh nhau lấy một nan tre hoặc mảnh hình nộm mang về nhà, coi như được “lộc thánh”. Không đơn thuần là mê tín, đó là biểu hiện của niềm tin cộng đồng về sự che chở bởi vị phúc thần đáng kính. Từ một câu chuyện riêng tư của một người phụ nữ, dân gian đã sáng tạo một lễ hội phản ánh những giá trị phổ quát: sinh tồn, sinh sôi, hạnh phúc. Từ đó đến nay, tục múa Ông Đùng Bà Đà mang dấu vết của lớp tín ngưỡng phồn thực cổ truyền, qua nhiều thế hệ, được tái tạo và tích hợp thêm những lớp nghĩa giá trị về văn hóa, lịch sử.
Trong hệ thống tín ngưỡng gắn với nghề muối ở Việt Nam, trường hợp Bà chúa Muối ở Quang Lang là một hiện tượng đặc sắc. Điều đó cho thấy, đây không còn là ký ức của một cá nhân, mà trở thành biểu tượng của cả một cộng đồng cư dân. Trong tín ngưỡng ấy có sự dung hợp văn hóa, có hình bóng người phụ nữ Việt Nam đẹp người, đẹp nết, đoan trang, phúc hậu, chịu thương chịu khó; có lịch sử nghề muối; có tín ngưỡng thờ Mẫu; có đạo lý "uống nước nhớ nguồn"; và cả khát vọng về cuộc sống đủ đầy, bình an…
Không gian thờ tự Bà chúa Muối cũng mang nhiều giá trị lịch sử. Tấm bia đá năm 1596 từng ca ngợi nơi đây là “thắng cảnh quý báu dưới trời Nam”, đồng thời ghi rõ sắc phong dành cho Bà chúa Muối: Từ Ý Thái Hòa Đệ Tam cung phi Linh Ứng Tôn thần. Cùng với các tư liệu khác, cho thấy việc phụng thờ Bà chúa Muối đã được một số triều đình phong kiến chính thức ghi nhận từ nhiều thế kỷ trước. Dù trải qua chiến tranh và nhiều biến động khiến đền thờ từng bị phá hủy, người dân vẫn gìn giữ ký ức về bà. Đền được phục dựng vào năm 2012. Không gian Lễ hội Ông Đùng Bà Đà được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016. Đó không chỉ là sự phục hồi một di tích, còn là sự phục hồi ký ức văn hóa của cả một vùng đất có bề dày văn hóa, có chiều sâu lịch sử.
Lịch sử gặp gỡ huyền thoại kết thành tín ngưỡng
Điều làm nên sức sống lâu bền của huyền thoại Bà chúa Muối không nằm ở từng chi tiết truyền thuyết có chính xác hay không. Giá trị lớn nhất của huyền thoại là đã lưu giữ điều mà lịch sử nhiều khi không ghi chép được, là tình cảm yêu mến, quý trọng của nhân dân.
Lịch sử cho biết có một Tam phi Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh. Huyền thoại kể về một người con gái sinh ra từ ánh trăng; lớn lên, trưởng thành từ đồng muối; chết giữa những nụ cười vui vẻ của trẻ mục đồng. Lịch sử dựng đền thờ. Huyền thoại thiêng hóa đền thờ ấy. Lịch sử và huyền thoại không phủ định nhau, mà bổ sung cho nhau, làm nên chiều sâu nhân văn của tín ngưỡng. Không chỉ hiện diện trong đền phủ, trong lễ hội, Bà chúa Muối còn hiện diện trong tâm thức cộng đồng với tư cách một biểu tượng của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam, của nghề muối truyền thống và của sức sống bền bỉ, phóng khoáng của văn hóa biển.
Vì sao huyền thoại gắn với tín ngưỡng Ông Đùng Bà Đà? Bởi cùng phản ánh khát vọng về sự an lành, sinh sôi, no đủ, lòng biết ơn lịch sử, biết ơn thiên nhiên và ước vọng về mùa màng bội thu, nghề nghiệp hanh thông, thuận lợi. Ông Đùng, Bà Đà là cặp nhân vật khổng lồ mang sức mạnh bảo trợ cộng đồng. Bà chúa Muối biểu tượng cho nghề muối – nguồn sống đặc thù của bộ phận cư dân. Sự giao hòa lịch sử và huyền thoại tạo nên hệ thống tín ngưỡng dân gian, để con người gửi gắm những mã văn hóa nhân văn. Từ đây, phải chăng, còn hé ra một cơ chế kiến tạo của văn hóa!?