Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.

Hà Nội tình yêu và nỗi nhớ

Sau khi tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1943, họa sĩ Tạ Tỵ tham gia triển lãm “Mùa thu” (18/8/1946) đã thể hiện sự khác biệt với bức tranh sơn mài “Đêm hoa đăng”.

Hội Báo chí Việt Nam đã trao tặng giải thưởng 1.000 đồng (đứng thứ 2 theo giá trị tiền) cho tác phẩm của Tạ Tỵ tại Nhà hát lớn Hà Nội. Sau đó, họa sĩ tham gia kháng chiến (1946), làm việc cùng với các họa sĩ Văn Cao, Cát Hữu, Bùi Xuân Phái và Lương Xuân Nhị…Ngay trong triển lãm đầu tiên (1948) với nội dung “Dân quân trong kháng chiến” (tại Liên Khu 3), họa sĩ Tạ Tỵ gây chấn động về nghệ thuật tạo hình với kỹ thuật Lập thể qua những tác phẩm “Lìa phố”, “Chiến tranh”, “Nhớ Hà Nội” và “Thiếu phụ”.

Đây là kết quả sau hơn 5 năm, họa sĩ theo đuổi con đường sáng tạo độc lập không theo khuôn phép hàn lâm đã học ở nhà trường. Người con trai hà thành này đã cùng với các họa sĩ Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Hoàng Lập Ngôn, Văn Cao say mê theo đuổi nghệ thuật hiện đại. Họa sĩ Tạ Tỵ nhanh chóng vượt qua chặng đường Tân ấn tượng (theo đuổi ban đầu) và dấn thân vào kỹ thuật Lập thể. Những bức tranh về Hà Nội của Tạ Tỵ được coi là thành công đầu tiên khi ông vẽ theo trường phái mới lạ này. Đó là tình yêu Hà Nội với nhiều điểm nhìn vật thể (đối tượng) cùng những sắc màu đơn trong các góc cạnh và hình khối giàu cảm xúc.

2-379.jpg
Họa sĩ Tạ Tỵ bên tác phẩm.

Ông đã tổ chức triển lãm đầu tiên tại Hà Nội với cái tên “Tiền tiến” (năm 1951). “Tiền tiến” là một tuyên ngôn cho nghệ thuật hiện đại đầu tiên vào thời điểm này. Sự xuất hiện của 57 tác phẩm vẽ theo trường phái Lập thể với bản lĩnh đánh đổi cuộc đời vì đổi mới. Đầu tiên, người đến xem vì tò mò nhưng sau đó, họ nô nức xếp hàng trong hai tuần liền vì say mê hội họa Tạ Tỵ. Đặc biệt, phòng tranh tạo nên nỗi xúc động bất ngờ với tâm hồn các thế hệ trẻ. Nhà văn Mai Thảo đã thốt lên khi xem tranh Tạ Tỵ: “Những ngón tay bắt được của trời”. Đó là những ngón tay tạo nên những sắc màu như “Men rượu”, “Cửa Ô”, “Vàng và tím”, “Thiếu phụ”. Và còn đó, những bức tranh gây xúc động lòng người như “Người yêu”, “Vũ khúc”. “Thể xác” “Tồn tại”, “Chiếu bạc”…

Tác phẩm “Truồng”.
Tác phẩm “Truồng”.

Các họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, Bùi Xuân Phái và Phạm Khanh đã tham dự, chia vui cùng Tạ Tỵ khi có tới 90% số tranh được các nhà sưu tầm mua. Báo chí từng ca ngợi Tạ Tỵ là “Picasso Việt Nam”. Tuy vậy, Tạ Tỵ lại có cách khai thác chiều thứ tư không gian của mình thật khác biệt. Khi ấy, một vật thể không gian ba chiều được bẻ vỡ tạo nhiều điểm nhìn cùng một lúc. Nếu ngắm bức “Cửa ô” thấy rõ hình ảnh một cô gái làng chơi đứng đón khách ở cửa ô. Ánh đèn vàng từ những cửa sổ hai nhà bên đường hắt rọi lên mái tóc bồng bềnh. Điều khác biệt ở chỗ, khuôn mặt người con gái thể hiện hai tính cách. Nửa bên trái ánh xạ nét xấu xa thấp hèn, nửa mặt bên phải lộ rõ tâm cảm bình thường. Hai mặt biểu cảm sự trớ trêu của số phận khi phải đi vào con đường này. Đúng như tâm trạng khi ông viết: “Có nhớ chăng ai, lệ nào ướt đẫm tình người/ Tê tái tiếng cười, từng cánh hoa đời khép lại” (Thương nhớ cửa ô).

Những sắc màu ngát hương

Sự thành công của họa sĩ Tạ Tỵ báo hiệu cho con đường sáng cho ngã rẽ của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Phố phường Hà Nội và dân kẻ chợ đã tạo sự hứng khởi cho họa sĩ. Đó là những chùm tác phẩm mới trên con đường du nam sau này của ông. “Dạ khúc” là bức tranh Lập thể, với hình tượng hai người đàn bà khỏa thân thật khêu gợi. Đây là dấu ấn đặc sắc cho triển lãm tranh với tiêu đề “Dâng” ở Sài Gòn của Tạ Tỵ (năm 1956). Tiếp tục với ngôn ngữ sắc màu Lập thể, họa sĩ Tạ Tỵ lại gây cơn sốt trong làng hội họa miền nam. Mỗi bức tranh tựa như một bài thơ tượng trưng và siêu thực vậy.

6-da-khuc-5936.jpg
Tác phẩm “Dạ khúc”.

Vẫn chưa hết, tới năm 1961, họa sĩ Tạ Tỵ gây bất ngờ với người xem khi tranh ông tạo bước chuyển giao từ Lập thể sang Trừu tượng. Vậy là sau triển lãm “Dâng”, họa sĩ thử thách mình qua một cách thể hiện mới, đó là không gian siêu hình. Triển lãm “Lập thể và Trừu tượng” tại Sài Gòn (1961).

Ông quan niệm Trừu tượng mới thực sự thử thách người họa sĩ. Bởi ở đó hình thể đề tài được xóa bỏ. Tác phẩm “Biên giới không gian” ra đời từ đó. Cũng với những hình tam giác, bán nguyệt xen kẽ các hình khối, dọc ngang được bẻ hình của ngôn ngữ Lập thể, thì giờ đây, chúng rời rạc độc lập không tập trung mà phô diễn một nhịp điệu trực giác vô định về biên giới của vũ trụ. Người xem chỉ cảm thấy chứ không thể giải thích được. Sự chuyển hướng ấy của họa sĩ Tạ Tỵ liên tục và bứt tốc với địa hạt Trừu tượng.

Tuy nhiên, họa sĩ Tạ Tỵ vẫn chỉ cho đây là triển lãm thử nghiệm về một trường Trừu tượng. Tranh mang dáng dấp của thi ca siêu thực. Trong tranh những biểu tượng không hề liên quan nhưng lại được sắp xếp cạnh nhau để bày tỏ một giao kết, hay điểm nổ thông tin (ý tưởng hay tâm linh). Bức tranh “Giai điệu âm nhạc” gợi sự ám ảnh phiêu linh ấy. Người xem mường tượng một người trẻ tuổi đang chơi vĩ cầm. Một ký ức bật sáng về con sóng âm nhạc nổi lên. Bởi lẽ, khi còn trẻ họa sĩ Tạ Tỵ đã từng học và chơi vĩ cầm trong 5 năm khá thành thạo. Nhưng để cho dòng nhạc chảy và bay cao vút, họa sĩ đã ngẫu hứng kết nối những hình khối và gam màu, thể hiện chiều sâu của chủ đề bức tranh.

Bức tranh đắt giá và những chân dung dị biệt

Sau triển lãm tranh Lập thể lần thứ ba, họa sĩ Tạ Tỵ vẽ tới 50 bức tranh Trừu tượng, chuẩn bị cho triển lãm (năm 1966) nhưng không thành. Tuy nhiên, ông đã để lại dư vang kỳ lạ với một bức tranh Trừu tượng đã vẽ vào năm 1965. Tác phẩm này có giá đắt nhất với giá 100 lượng vàng (900.000 USD) vào thời gian đó. Đây là bức tranh kích thước (1,6mx3,5m), họa sĩ Tạ Tỵ vẽ theo đơn đặt hàng của ông Rifle, Giám đốc ngân hàng ở bến Bạch Đằng. Thậm chí, ông này còn mua nhiều tranh của Tạ Tỵ, trong đó có bức “Cất Cánh” nổi tiếng (1972). Hiện bức “Cất Cánh” đã được Bảo tàng Mỹ thuật Hồ Chí Minh mua lại để trưng bày.

Bên cạnh những mơ tưởng huyền ảo về nỗi niềm yêu thương cuộc sống, họa sĩ Tạ Tỵ còn vẽ chân dung bạn bè thân quen. Đó là nét đặc trưng dị biệt của 50 văn nghệ sĩ. Tạ Tỵ đã in vào những cuốn sách ông viết trong thời gian 5 năm sau đó như “Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay”, “Những khuôn mặt văn nghệ đi qua đời tôi”... Có thời gian, họa sĩ ngừng vẽ tập trung vào viết sách báo, nghiên cứu về nghệ thuật.

Ông có tài phác họa chân dung theo cả hai chiều, hình họa, con chữ và làm thơ. Chân dung nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được Tạ Tỵ vẽ đầu tiên bởi những kỷ niệm thân thiết ở Hà Nội (năm 1950). Ông say mê tiếng đàn của Dương Thiệu Tước và thường tới cửa hàng của nhạc sĩ ở phố Hàng Gai để mua sách và dây đàn. Sau hai người gặp lại nhau ở Sài Gòn trở nên thân thiết. Tiếp sau đó, những chân dung lãng nhân Phùng Tất Đắc; nhà văn Vũ Bằng; nhà soạn tuồng Năm Châu; nhà thơ Đồng Hồ; nhạc sĩ Trịnh Công Sơn; thi sĩ Nguyễn Sa… Mỗi chân dung đều biểu lộ tính cách riêng biệt qua nét vẽ xuất thần và độc đáo. Cuối cùng, tiếng thơ trong tâm hồn Tạ Tỵ cất lên da diết với bạn bè: “Ta để lại một vùng trời rực rỡ/ Một vườn đời rộn rã tiếng chim ca/ Một bông lúa và cành hoa dang dở/ Một kiếp người cùng Họ, tên ta” (Ta để lại). l

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.