Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Văn hóa là thành quả của quá trình sáng tạo không ngừng của cả dân tộc, trong đó thường xuyên diễn ra những cuộc giao lưu có đấu tranh, tiếp thu, cải tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu thẩm mỹ tâm lý, tinh thần của toàn dân tộc, tạo nên một cốt cách độc đáo riêng của cộng đồng dân tộc; tăng thêm niềm tự hào dân tộc chính đáng cho con người hôm nay. Xác định được, hơn nữa, khẳng định được rằng dân tộc mình có một nền văn hóa cho mình là một đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi vào việc củng cố ý thức dân tộc, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Về phần mình, Nguyễn Trãi đã có những đóng góp hết sức lớn lao vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc. Ông đã để lại một di sản tinh thần quý báu cho muôn đời con cháu về sau mà mỗi người chúng ta đều cảm thấy như mình đã nhận được phần thừa kế. Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Trãi “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” rực rỡ như ánh sao Khuê, soi rọi từng bước đi của mỗi chúng ta.

Nguyễn Trãi là người đã tiếp thu và tổng kết những suy tư của các thế hệ trước về sự hiện diện một nền văn hóa Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành trải qua hàng nghìn năm đấu tranh bền bỉ với thiên nhiên, với ngoại xâm để giành lại và bảo vệ quyền sống độc lập, tự do của mình.

Từ những buổi bình minh của lịch sử, đất nước ta với tên gọi Văn Lang, trải qua Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Việt đã có không biết bao nhiêu cuộc nổi dậy của nhân dân chống lại và đánh đuổi bọn bành trướng phương Bắc, Trong cả một quá trình lâu dài ấy, nếu chỉ tính từ đầu công nguyên đến đầu thể kỷ X, chúng ta đã bị hàng nghìn năm Bắc thuộc, nền văn hóa Việt cổ đã phải trải qua những thử thách hết sức nghiêm trọng chống lại dã tâm đồng hóa của bọn bành trướng phương Bắc. Khi ta giành lại quyền độc lập, tự chủ về kinh tế và chính trị, thì ý thức bảo tồn những phong tục tập quán, sưu tầm các tư liệu về nguồn gốc dân tộc lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

danh-nhan-van-hoa-nguy-n-trai.jpg
Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.

Lý Tế Xuyên (1), Hồ Tông Thốc (2) đã sưu tầm các truyện thần linh, các truyền thuyết về nguồn gốc lịch sử dân tộc. Trần Minh Tông năm 1357 nói: “Nước ta đã có phép tắc nhất định. Vả lại Nam Bắc phong tục cũng khác nhau”... Trần Nghệ Tông, năm 1370 cũng cho rằng ta dựng nước theo phép độ riêng, không theo chế độ nhà Tống, là vì: “Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không cần phải bắt chước nhau”.

Nhưng phải đến Nguyễn Trãi chúng ta mới thấy một lời khẳng định đầy đủ về văn hiến Việt Nam. Nguyễn Trãi đã tổng kết những thành tựu tư tưởng của các đời trước về văn hóa để khẳng định mạnh mẽ rằng dân tộc Việt Nam đã có một nền văn hóa. Nền văn hóa đó của Việt Nam có sắc thái Việt Nam “phong tục Bắc Nam cũng khác”, (Tự biết mình không phải dễ, chỉ khi nào mình biết người khi ấy sự hiểu mình mới rõ. Chính trong giai đoạn lịch sử này, ở một cấp độ nhận thức nhất định, với số lượng kinh nghiệm lịch sử nhiều năm đụng độ với đối tượng so sánh ta mới rõ ta hơn). Nguyễn Trãi đã hào hứng ghi tuyên ngôn trong Đại cáo bình Ngô,

“Xét như nước Đại Việt ta,
Thật là một nước văn hiến.
Bờ cõi sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác”

(Bình Ngô đại cáo)

Có ý thức về nền văn hóa dân tộc là biểu hiện một tinh thần dân tộc cao và sâu nhất, vì văn hóa là tâm hồn con người Việt Nam, tính cách đặc điểm tâm lý dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã phác họa được trong các công trình biên soạn và trong chính sự nghiệp văn học của ông những tính cách hết sức độc đáo của con người Việt Nam. Ông phất cao ngọn cờ nhân nghĩa. Ông đã tạo nên những truyền thống quý báu về một chủ nghĩa nhân đạo kiểu Việt Nam: Đó là biểu hiện nội dung cao nhất mang cốt cách dân tộc Việt Nam.

Mục tiêu tha thiết của Nguyễn Trãi là làm sao cho “trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu”, “muôn thuở nền thái bình vững chắc”. Đó là lòng yêu nước thương dân và ngược lại với nó là lòng căm thù “hung tàn” và “bạo ngược”. Nguyễn Trãi, hơn ai hết, đã thông cảm với lòng người, bởi ông đã thể nghiệm qua chính cuộc sống của mình “tình dân đau khổ đều được tỏ tường, đường đời gian nan cũng đã từng trải” (Nguyễn Trãi toàn tập). Nguyễn Trãi căm thù cao độ bọn giặc tàn ác, ông đã tố cáo những tội ác của giặc Minh qua bản “cáo trạng” Bình Ngô.

...Dối trời, lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bao nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi

(Bình Ngô đại cáo)

Ông luôn luôn “thương yêu dân chúng, nghĩ làm việc khoan nhân” “tạo phúc cho dân”. Ông nêu ra quốc sách “làm việc theo lối trị”, chứ không được “làm việc theo lối loạn. Đặc biệt trong mối quan hệ giữa người với người, Nguyễn Trãi đề cao lòng ưu ái, tình thương yêu, lòng tin cậy, tôn trọng lẫn nhau. Đó là tư tưởng nhân nghĩa, cái cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam, nó thực gần gũi với những câu ca dao lưu truyền trong dân gian về lòng thương yêu:

Thương người như thể thương thần”; Bầu ơi thương lấy bí cùng.. ;
Nhiễu điều phủ lấy giá gương...; Lá lành đùm lá rách...

Và, mặc dầu cho trong thế gian còn có biết bao “thói thường đen bạc”, Nguyễn Trãi vẫn khuyên:

“Lòng thể bạc đen dầu có biến
Ta già nhân nghĩa chớ loàn đan, (3)

Và ông rất tin là có thể cảm hóa được lòng người:

“Mưa trách thế gian lòng đạm bạc
Thế gian đạm bạc đầy lòng thương”.

Nguyễn Trãi cũng rất hiểu sự lật lọng, nham hiểm của kẻ thù, bởi thể ông từng nói rõ: “Bảo cho mày ngược lại Phương Chính biết: đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng giúp thêm. Nay bọn mày chỉ chuyên lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương. Việc ấy trời đất không dung, thần người đều giận”.

Ngoài ra Nguyễn Trãi còn chú ý đến cả việc gìn giữ những phong tục cổ truyền của dân tộc trong cách ăn mặc. Ông viết : “Người Ngô bị chìm đắm đã lâu ở phong tục người Nguyễn... Đến người Minh tuy khôi phục lại lối ăn mặc của thời Hán, thời Đường, nhưng phong tục vẫn chưa biến đổi (4). Ý kiến của Nguyễn Trãi nêu ra trong hoàn cảnh chủ quyền nước ta luôn bị đe dọa, nhất là trước âm mưu đồng hóa vô cùng hiểm độc của bọn xâm lược, là có ý nghĩa tích cực.

Về ngôn ngữ, bản thân Nguyễn Trãi đã có những cống hiến xuất sắc vào việc phát triển văn Nôm với “Quốc âm thi tập” mà cho đến nay chúng ta vẫn coi là kho tàng quý giá của tiếng Việt xưa: có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ những sáng tác văn Nôm trong dân gian và trong cung đình, nâng địa vị tiếng Nôm dân tộc lên ngang tầm với văn chương bác học bằng chữ Hán đương thời.

Văn nghệ là tâm hồn, tình cảm của Nhân dân, là “túi thơ chứa chất hết mọi giang san”. Văn nghệ có được “hài hòa”, “đứng vững” được hay không là ở “gốc”, bắt nguồn từ “lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân”, vì hạnh phúc của nhân dân. Có thể nói văn nghệ mang một nội dung chủ nghĩa nhân đạo rất cao cả Nguyễn Trãi nhất quán tuân theo trong suốt cả đời mình.

Trước đây, có một số ít học giả nước ngoài rất “ngại” Việt Nam, nhất là sau đại thắng mùa xuân 1975, khi nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ. Trước kia (khoảng đầu thế kỷ XX), số học giả đó cho rằng Việt Nam chỉ là cái bóng của Trung Hoa (một bản sao chép văn hóa Trung Hoa).

Ngày nay họ lại cho rằng cần phải dè chừng Việt Nam, vì Việt Nam có khả năng chống chọi với phương Tây (5), mà sở dĩ Việt Nam có khả năng ấy là do Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Khổng Tử (!), có nghĩa là trước kia cũng như hiện nay trong số ít học giả phương Tây vẫn chưa thấy được nguồn gốc của sức mạnh dân tộc Việt Nam.

Họ không thể hiểu rằng một phần sức mạnh ấy đã được tiếp nguồn từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được lưu giữ và tích tụ trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam từ đời này sang đời khác mà mỗi thời đại, từ Nguyễn Trãi cho đến chúng ta và sau này đều có thể rút ra được nhiều bài học bổ ích.

Đúng như đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói trong buổi lễ khai mạc Kỷ niệm lần thứ 600 năm sinh Nguyễn Trãi (1380-1980) rằng chính thời gian và lịch sử đã tìm thấy ở cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trãi những tình cảm và lẽ phải đã đưa dân tộc Việt Nam ta từ thế hệ này đến thế hệ khác không ngừng phấn đấu hướng về phía trước vì giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và loài người. Nguyễn Trãi xứng đáng là một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam để xây dựng cuộc sống với những tình cảm đẹp đẽ giữa người và người “thiên tài lộng gió bốn phương mà vẫn giữ nguyên vẹn bản lĩnh và tinh thần của dân tộc”.

---------

(1) Lý Tế Xuyên viết trong Bài tựa sách “Việt điện u linh: “Nước Việt ta những thần được cúng từ xưa đến nay rất nhiều nhưng các thần đều có phẩm loại khác nhau, hoặc có vị là tinh túy của non sông, hoặc có vị là nhân vật..... thiêng liêng, khí thế vang lừng ở dưỡng thời, anh linh rõ rệt ở đời sau...

(2) Hồ Tông Thốc viết trong “ Việt Nam thể chí tụ”: “Ghi chép về nguồn gốc dân tộc thực là nhọc lòng lắm, huống chi nước Việt Nam ta ở cõi xa, sự hiểu biết cũng khác, từ đời Hồng Bàng cổ xưa, trong lúc mới dựng nước, sách vở không đâu mà biết? Nếu cho là không thực thì do đâu mà xét? Đủ, lễ nhạc chưa có, nếu cho là có thực thì nhớ mà xét? Cho nên những truyện sưu tầm đều là lượm lặt từ truyền thuyết lưu lại, trích lấy đầu đuôi để giúp biết rõ về phả kỷ từng đời...”.

“Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đầu chủ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau.
Song hào kiệt không bao giờ thiếu”.

(3) Loàn đan: lăng loàn, trái đạo.

(4) Một điều thú vị là chính bọn phong kiến Trung Quốc đời Ngô đã bắt dân phải thay đổi y phục để mặc như người Nguyên. Sau này, khi nhà Minh lên, bọn quan lại nhà Minh khen vua ta: (An Nam tế hữu Trần, phong tục bất Nguyên nhân” (Vua Nam cả Trần thị, phong tục chẳng theo Nguyên).

(5) Như Alecxander Woodsicle, Giáo sư Trường đại học British Columbia ở Vancover viết trong The Asian Wall Strut journal, số 27/3/1980.

Lê Văn Huân

Các tin khác

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.