Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Văn hóa là thành quả của quá trình sáng tạo không ngừng của cả dân tộc, trong đó thường xuyên diễn ra những cuộc giao lưu có đấu tranh, tiếp thu, cải tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu thẩm mỹ tâm lý, tinh thần của toàn dân tộc, tạo nên một cốt cách độc đáo riêng của cộng đồng dân tộc; tăng thêm niềm tự hào dân tộc chính đáng cho con người hôm nay. Xác định được, hơn nữa, khẳng định được rằng dân tộc mình có một nền văn hóa cho mình là một đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi vào việc củng cố ý thức dân tộc, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Về phần mình, Nguyễn Trãi đã có những đóng góp hết sức lớn lao vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc. Ông đã để lại một di sản tinh thần quý báu cho muôn đời con cháu về sau mà mỗi người chúng ta đều cảm thấy như mình đã nhận được phần thừa kế. Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Trãi “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” rực rỡ như ánh sao Khuê, soi rọi từng bước đi của mỗi chúng ta.

Nguyễn Trãi là người đã tiếp thu và tổng kết những suy tư của các thế hệ trước về sự hiện diện một nền văn hóa Việt Nam. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành trải qua hàng nghìn năm đấu tranh bền bỉ với thiên nhiên, với ngoại xâm để giành lại và bảo vệ quyền sống độc lập, tự do của mình.

Từ những buổi bình minh của lịch sử, đất nước ta với tên gọi Văn Lang, trải qua Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Việt đã có không biết bao nhiêu cuộc nổi dậy của nhân dân chống lại và đánh đuổi bọn bành trướng phương Bắc, Trong cả một quá trình lâu dài ấy, nếu chỉ tính từ đầu công nguyên đến đầu thể kỷ X, chúng ta đã bị hàng nghìn năm Bắc thuộc, nền văn hóa Việt cổ đã phải trải qua những thử thách hết sức nghiêm trọng chống lại dã tâm đồng hóa của bọn bành trướng phương Bắc. Khi ta giành lại quyền độc lập, tự chủ về kinh tế và chính trị, thì ý thức bảo tồn những phong tục tập quán, sưu tầm các tư liệu về nguồn gốc dân tộc lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

danh-nhan-van-hoa-nguy-n-trai.jpg
Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.

Lý Tế Xuyên (1), Hồ Tông Thốc (2) đã sưu tầm các truyện thần linh, các truyền thuyết về nguồn gốc lịch sử dân tộc. Trần Minh Tông năm 1357 nói: “Nước ta đã có phép tắc nhất định. Vả lại Nam Bắc phong tục cũng khác nhau”... Trần Nghệ Tông, năm 1370 cũng cho rằng ta dựng nước theo phép độ riêng, không theo chế độ nhà Tống, là vì: “Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không cần phải bắt chước nhau”.

Nhưng phải đến Nguyễn Trãi chúng ta mới thấy một lời khẳng định đầy đủ về văn hiến Việt Nam. Nguyễn Trãi đã tổng kết những thành tựu tư tưởng của các đời trước về văn hóa để khẳng định mạnh mẽ rằng dân tộc Việt Nam đã có một nền văn hóa. Nền văn hóa đó của Việt Nam có sắc thái Việt Nam “phong tục Bắc Nam cũng khác”, (Tự biết mình không phải dễ, chỉ khi nào mình biết người khi ấy sự hiểu mình mới rõ. Chính trong giai đoạn lịch sử này, ở một cấp độ nhận thức nhất định, với số lượng kinh nghiệm lịch sử nhiều năm đụng độ với đối tượng so sánh ta mới rõ ta hơn). Nguyễn Trãi đã hào hứng ghi tuyên ngôn trong Đại cáo bình Ngô,

“Xét như nước Đại Việt ta,
Thật là một nước văn hiến.
Bờ cõi sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác”

(Bình Ngô đại cáo)

Có ý thức về nền văn hóa dân tộc là biểu hiện một tinh thần dân tộc cao và sâu nhất, vì văn hóa là tâm hồn con người Việt Nam, tính cách đặc điểm tâm lý dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã phác họa được trong các công trình biên soạn và trong chính sự nghiệp văn học của ông những tính cách hết sức độc đáo của con người Việt Nam. Ông phất cao ngọn cờ nhân nghĩa. Ông đã tạo nên những truyền thống quý báu về một chủ nghĩa nhân đạo kiểu Việt Nam: Đó là biểu hiện nội dung cao nhất mang cốt cách dân tộc Việt Nam.

Mục tiêu tha thiết của Nguyễn Trãi là làm sao cho “trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu”, “muôn thuở nền thái bình vững chắc”. Đó là lòng yêu nước thương dân và ngược lại với nó là lòng căm thù “hung tàn” và “bạo ngược”. Nguyễn Trãi, hơn ai hết, đã thông cảm với lòng người, bởi ông đã thể nghiệm qua chính cuộc sống của mình “tình dân đau khổ đều được tỏ tường, đường đời gian nan cũng đã từng trải” (Nguyễn Trãi toàn tập). Nguyễn Trãi căm thù cao độ bọn giặc tàn ác, ông đã tố cáo những tội ác của giặc Minh qua bản “cáo trạng” Bình Ngô.

...Dối trời, lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bao nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi

(Bình Ngô đại cáo)

Ông luôn luôn “thương yêu dân chúng, nghĩ làm việc khoan nhân” “tạo phúc cho dân”. Ông nêu ra quốc sách “làm việc theo lối trị”, chứ không được “làm việc theo lối loạn. Đặc biệt trong mối quan hệ giữa người với người, Nguyễn Trãi đề cao lòng ưu ái, tình thương yêu, lòng tin cậy, tôn trọng lẫn nhau. Đó là tư tưởng nhân nghĩa, cái cốt lõi của chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam, nó thực gần gũi với những câu ca dao lưu truyền trong dân gian về lòng thương yêu:

Thương người như thể thương thần”; Bầu ơi thương lấy bí cùng.. ;
Nhiễu điều phủ lấy giá gương...; Lá lành đùm lá rách...

Và, mặc dầu cho trong thế gian còn có biết bao “thói thường đen bạc”, Nguyễn Trãi vẫn khuyên:

“Lòng thể bạc đen dầu có biến
Ta già nhân nghĩa chớ loàn đan, (3)

Và ông rất tin là có thể cảm hóa được lòng người:

“Mưa trách thế gian lòng đạm bạc
Thế gian đạm bạc đầy lòng thương”.

Nguyễn Trãi cũng rất hiểu sự lật lọng, nham hiểm của kẻ thù, bởi thể ông từng nói rõ: “Bảo cho mày ngược lại Phương Chính biết: đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng giúp thêm. Nay bọn mày chỉ chuyên lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương. Việc ấy trời đất không dung, thần người đều giận”.

Ngoài ra Nguyễn Trãi còn chú ý đến cả việc gìn giữ những phong tục cổ truyền của dân tộc trong cách ăn mặc. Ông viết : “Người Ngô bị chìm đắm đã lâu ở phong tục người Nguyễn... Đến người Minh tuy khôi phục lại lối ăn mặc của thời Hán, thời Đường, nhưng phong tục vẫn chưa biến đổi (4). Ý kiến của Nguyễn Trãi nêu ra trong hoàn cảnh chủ quyền nước ta luôn bị đe dọa, nhất là trước âm mưu đồng hóa vô cùng hiểm độc của bọn xâm lược, là có ý nghĩa tích cực.

Về ngôn ngữ, bản thân Nguyễn Trãi đã có những cống hiến xuất sắc vào việc phát triển văn Nôm với “Quốc âm thi tập” mà cho đến nay chúng ta vẫn coi là kho tàng quý giá của tiếng Việt xưa: có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ những sáng tác văn Nôm trong dân gian và trong cung đình, nâng địa vị tiếng Nôm dân tộc lên ngang tầm với văn chương bác học bằng chữ Hán đương thời.

Văn nghệ là tâm hồn, tình cảm của Nhân dân, là “túi thơ chứa chất hết mọi giang san”. Văn nghệ có được “hài hòa”, “đứng vững” được hay không là ở “gốc”, bắt nguồn từ “lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân”, vì hạnh phúc của nhân dân. Có thể nói văn nghệ mang một nội dung chủ nghĩa nhân đạo rất cao cả Nguyễn Trãi nhất quán tuân theo trong suốt cả đời mình.

Trước đây, có một số ít học giả nước ngoài rất “ngại” Việt Nam, nhất là sau đại thắng mùa xuân 1975, khi nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ. Trước kia (khoảng đầu thế kỷ XX), số học giả đó cho rằng Việt Nam chỉ là cái bóng của Trung Hoa (một bản sao chép văn hóa Trung Hoa).

Ngày nay họ lại cho rằng cần phải dè chừng Việt Nam, vì Việt Nam có khả năng chống chọi với phương Tây (5), mà sở dĩ Việt Nam có khả năng ấy là do Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Khổng Tử (!), có nghĩa là trước kia cũng như hiện nay trong số ít học giả phương Tây vẫn chưa thấy được nguồn gốc của sức mạnh dân tộc Việt Nam.

Họ không thể hiểu rằng một phần sức mạnh ấy đã được tiếp nguồn từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được lưu giữ và tích tụ trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam từ đời này sang đời khác mà mỗi thời đại, từ Nguyễn Trãi cho đến chúng ta và sau này đều có thể rút ra được nhiều bài học bổ ích.

Đúng như đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói trong buổi lễ khai mạc Kỷ niệm lần thứ 600 năm sinh Nguyễn Trãi (1380-1980) rằng chính thời gian và lịch sử đã tìm thấy ở cuộc đời và tư tưởng của Nguyễn Trãi những tình cảm và lẽ phải đã đưa dân tộc Việt Nam ta từ thế hệ này đến thế hệ khác không ngừng phấn đấu hướng về phía trước vì giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và loài người. Nguyễn Trãi xứng đáng là một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam để xây dựng cuộc sống với những tình cảm đẹp đẽ giữa người và người “thiên tài lộng gió bốn phương mà vẫn giữ nguyên vẹn bản lĩnh và tinh thần của dân tộc”.

---------

(1) Lý Tế Xuyên viết trong Bài tựa sách “Việt điện u linh: “Nước Việt ta những thần được cúng từ xưa đến nay rất nhiều nhưng các thần đều có phẩm loại khác nhau, hoặc có vị là tinh túy của non sông, hoặc có vị là nhân vật..... thiêng liêng, khí thế vang lừng ở dưỡng thời, anh linh rõ rệt ở đời sau...

(2) Hồ Tông Thốc viết trong “ Việt Nam thể chí tụ”: “Ghi chép về nguồn gốc dân tộc thực là nhọc lòng lắm, huống chi nước Việt Nam ta ở cõi xa, sự hiểu biết cũng khác, từ đời Hồng Bàng cổ xưa, trong lúc mới dựng nước, sách vở không đâu mà biết? Nếu cho là không thực thì do đâu mà xét? Đủ, lễ nhạc chưa có, nếu cho là có thực thì nhớ mà xét? Cho nên những truyện sưu tầm đều là lượm lặt từ truyền thuyết lưu lại, trích lấy đầu đuôi để giúp biết rõ về phả kỷ từng đời...”.

“Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đầu chủ một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau.
Song hào kiệt không bao giờ thiếu”.

(3) Loàn đan: lăng loàn, trái đạo.

(4) Một điều thú vị là chính bọn phong kiến Trung Quốc đời Ngô đã bắt dân phải thay đổi y phục để mặc như người Nguyên. Sau này, khi nhà Minh lên, bọn quan lại nhà Minh khen vua ta: (An Nam tế hữu Trần, phong tục bất Nguyên nhân” (Vua Nam cả Trần thị, phong tục chẳng theo Nguyên).

(5) Như Alecxander Woodsicle, Giáo sư Trường đại học British Columbia ở Vancover viết trong The Asian Wall Strut journal, số 27/3/1980.

Lê Văn Huân

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.