Tại Nam Kỳ, từ ngày 1/8/1901 trên tờ Nông cổ mín đàm, ông chủ nhiệm Canavaggio đã dịch “Tam quốc chí”. Sau đó, năm 1905 các ông Nguyễn Chánh Sắt, Phụng Hoàng Sang, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Danh... ồ ạt tung ra thị trường sách hàng loạt tác phẩm dịch như “Thủy hử”, “Đông Châu liệt quốc”, “Liêu trai chí dị”... Về sau, khi tổng kết hiện tượng này, tờ Phụ Nữ Tân Văn số 60 ra ngày 10/7/1930 đánh giá: “Mấy ông Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương là những tay dịch thuật trứ danh ở Nam Kỳ này”. Trong khi đó, ở Bắc Kỳ mãi đến năm 1907, Phan Kế Bính mới bắt đầu in bản dịch “Tam quốc chí”.
Đọc và nghe đọc truyện Tàu là một cái thú của dân Nam Kỳ thời bấy giờ.
Trong quyển “Tân An ngày xưa” (1972), nhà nghiên cứu Đào Văn Hội cho biết vào thập niên 1910: “Năm ấy, tôi là học sinh trường tỉnh Tân An. Mỗi tối, cơm nước xong xuôi, anh em chúng tôi làm bài, học bài đến 8 giờ thì ông thân chúng tôi chìa ra một cuốn truyện của Trần Phong Sắc mà ông mới mượn đâu hồi chiều. Anh em chúng tôi thay phiên nhau đọc, cả nhà nằm nghe. Hàng xóm cũng đến nghe hùn, đến 10 giờ mới tắt đèn đi nghỉ.
Tôi thích nhứt là bộ truyện “Phong thần” do ông Trần Phong Sắc dịch, kết thúc bài tựa của ông bằng bốn câu thi như vầy:
Trằn trọc đêm thanh mấy khắc chầy,
Phong thần diễn dịch giải niềm tây.
Sắc tài phép tắc bày ra đủ,
Chép để khuyên răn phỉ nguyện này.
Bốn chữ đầu của bốn câu thi ghép lại là “Trần Phong Sắc chép”. Cũng trong bộ “Chánh Đức du Giang Nam”, ông có làm mấy câu thi:
Trần thiện can vua kính họ Lương,
Phong làm Thừa tướng giúp triều đường.
Sắc ban Quốc thái sai tìm chúa,
Chánh Đức về ngai hưởng thái bường.
(Trần Phong Sắc chánh).
Chẳng những ông Trần Phong Sắc tế nhị trong văn tình cảm mà khi ông tả cảnh hai tướng Phiên Đường chiến đấu, hơi văn ông mạnh mẽ gọn gàng, nghe như tiếng binh khí chạm nhau chan chát: “Kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài, một qua, một lại, một tới, một lui, bốn mươi hiệp cầm đồng...”. Ấy, ông đang dịch thuật mà ông lại dùng chữ nho trong câu văn, song đọc lên cũng hay hay. Thuở ấy, bao nhiêu truyện Tàu do ông Trần Phong Sắc dịch ra đều được nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết, Đinh Thái Sơn, Đặng Lễ Nghi xuất bản, bán có ba cắc một cuốn mà thôi”.
Tất nhiên, sách bán rất chạy. Chính vì thế mới xảy ra chuyện in sách lậu. Trong “Lời rao khẩn kíp”, ông chủ nhà in J. Nguyễn Văn Viết et fils (85-87, Rue d'Ormay - Saigon) cho biết mánh lới phổ biến là in ít trang/ trương so với bản gốc: “Như bộ “Chung Vô Diệm” của tôi in bấy lâu nay là 658 chương, bây giờ họ sửa lại in ra có 404 chương, bớt hết 254 chương, bộ “Phong kiếm Xuân thu” của tôi in ra 570 chương, họ sửa còn có 348 chương, bớt 222 chương, cùng nhiều thứ truyện khác họ cũng in ra làm theo kiểu đó. Những kẻ ấy cố ý làm như vậy cho ít tốn tiền, in bán rẻ hơn tôi, họ có ý gạt quý vị lầm, nếu bớt hết như vậy thì còn gì bộ truyện. Cho nên xin quý vị có mua truyện mà xem thì xin nài cho đặng tên của mấy ông: Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương và Nguyễn Chánh Sắt là những tay dịch thuật trứ danh ở Nam Kỳ nầy, thì mới khỏi lầm truyện sửa bậy bạ của những người dục lợi, nếu giá giấy bên Tây tôi mua đặng rẻ, thì tôi sẽ còn hạ giá xuống nữa”.
Dù đầu thế kỷ XX ít người biết đọc chữ quốc ngữ, thế nhưng tại sao truyện Tàu bán chạy? Là bởi hầu như nhà nào cũng mua dăm ba bộ, hễ có bộ truyện nào mới in ra là mua rồi thuê học trò, người biết chữ quốc ngữ đọc cho nghe. Thiết tưởng đây là sự tiếp nối tâm lý thích nghe “nói thơ” của người miền Nam đã định hình trước đó.
Cái thú nghe đọc truyện Tàu, còn kéo dài đến thập niên 1940. Nữ sĩ Mộng Tuyết kể thi sĩ Nguyễn Bính lúc đến Hà Tiên thăm vợ chồng Đông Hồ: “Nhà ở Rẫy chạng vạng tối là khép cửa rồi. Dưới ngọn đèn dầu dừa, lửa bấc lù mù, một cô cháu tôi, cô Tú Ngọc, đọc truyện “Tam Quốc Chí” của Phan Kế Bính dịch cho má tôi nghe. Bính cũng vào ngồi nghe. Có khi Bính vào trễ, cửa đã cài then thì Bính ngồi ngoài hiên cho tới khuya mới về mà không dám gọi cửa. Bính nói: “Ngồi trong đêm sương khuya, nghe trộm tiếng người ngọc đọc sách cách một lần cửa đóng kín, cũng có một thú vị riêng”. Và từ đó, ông đã có thơ:
Vườn cây, gió thổi lộng muôn cành
Nhà cỏ, trăng soi vàng nửa mái
Thềm trăng, trải chiếu ngồi song song
Bàn chuyện Tam Quốc cười sảng khoái
Không chỉ trong Nam mà ngoài Bắc cũng thế. Truyện ngắn “Đôi mắt” viết thời kháng chiến chống Pháp, nhà văn Nam Cao miêu tả thật khéo:
“- Vâng, thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi.
Chị Hoàng chạy lại buýt-phê lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.
- Mình đọc hay tôi đọc?
- Mình đọc đi.
Chị để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh thằng con đã chui vào chăn trước.
- Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như...
- Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào? Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không?
Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện:
- Tôi thấy nói là nó giỏi.
- Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế.
Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu:
- Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo”.
Trong đoạn văn này có từ “buýt-phê”, nếu cần, ta nói/ viết “búp-phê” cũng không sai nghĩa bởi chỉ là cách phát âm từ “buffet” vay mượn tiếng Pháp nhằm chỉ cái tủ còn gọi tủ chè. Cái tủ này thấp chứ không cao, có chiều dài, được đặt trang trọng ngay phòng khách tại nhà trên, nhìn ra sân ra ngõ. Trên tủ bài trí lục bình để cắm hoa cho đẹp mắt; trong tủ đựng bát đĩa, bình, ly tách dùng uống trà hoặc vài thứ lặt vặt khác… Ngay phía trước tủ, chủ nhà đặt bộ bàn ghế mà ghế ngồi có lưng dựa, có chỗ gác tay để ngồi trang trọng tiếp khách cùng uống trà, hút thuốc lào, ăn kẹo lạc… nói chuyện phiếm hay bàn công việc.
Về cái thú nghe truyện Tàu của dân Nam Kỳ đầu thế kỷ XX, các cậu học trò nhờ biết chữ Quốc ngữ nên còn... kiêm thêm nghề đọc truyện mướn cho bà con làng xóm để kiếm tiền ăn quà vặt. Thật vậy, trong hồi ký kể về sinh hoạt của cậu học trò năm 1926 có những chi tiết thú vị:
“Kế cận nhà trọ của tôi là nhà bà Ba Ổn. Tôi biết bà Ba có mua được nhiều bộ truyện Tàu do các bậc túc nho Huỳnh Khắc Thuận, Nguyễn An Khương, Trần Phong Sắc... dịch ra quốc ngữ. Ở quê nhà, hồi tôi mới biết đọc, tôi bắt đầu xem thơ, tuồng, truyện. Tôi thích truyện hơn hết. Hễ mượn truyện của hàng xóm về, tôi cắm đầu đọc, đọc mãi đọc hoài không chán, đọc đến bỏ ăn, quên ngủ. Tôi mê truyện lắm. Bởi vậy khi nào rỗi rảnh tôi hay lân la bên nhà bà Ba và lựa dịp xin bà cho phép tôi được đọc mấy bộ truyện mà bà giữ gìn rất kỹ lưỡng.
Một bữa trưa thứ bảy, bà Ba ngồi ngoáy trầu trên bộ ván gỗ đặt bên hông nhà. Đứng bên góc ván, tôi đương dán mắt vào cuốn “Tam quốc”, say sưa xem Quan Văn Trường quá ngũ quan trảm lục tướng của Tào An Man. Bỗng tôi nghe văng vẳng : “Đọc lớn lên nghe thử coi, cháu!”. Muốn tỏ lòng tri ân bà, lại gặp dịp “trổ tài”, tôi tằng hắng lấy giọng rồi chậm rãi đọc to. Bà lẳng lặng nghe, thỉnh thoảng gật đầu cười chúm chím. Khi tôi ngừng đọc bà phát biểu ý kiến: “Cháu đọc hay quá! Chó chết thằng Nghĩa ở nhà đây, đọc ngập ngừng ngập ngững, khó nghe khó hiểu lắm”.
Chiều lại. Cơm nước xong, tôi đứng dưới gốc me trước nhà trọ, lơ đãng nhìn khách qua đường. Trò Nghĩa lăng xăng chạy lại nắm tay tôi rồi nói: “Bà nội tôi biểu anh qua nhà đọc truyện cho bà nghe, rồi bà biếu anh tiền ăn bánh”. Đọc truyện hợp với sở thích của mình mà lại được tiền ăn quà nữa, thật là sướng mê. Tôi bằng lòng ngay. Rồi từ đây, mỗi đêm tối tôi mỗi đọc truyện để được lãnh 2 xu. Thỉnh thoảng có con cháu hoặc bạn bè đến viếng bà Ba và lóng tai nghe tôi đọc truyện một cách thích thú.
Khi biết lai lịch của đứa bé mồ côi, thông minh, ngoan ngoãn dễ thương, họ có cảm tình với tôi ngay. Về nhà họ bàn tán và loan tin rằng: “Tại nhà thầy giáo Nhứt có một trò nhỏ học giỏi, đọc truyện Tàu nghe mùi mẫn”. Họ quảng cáo cho tôi mà tôi nào có dè! Chẳng bao lâu từ Cửa Đồn, Chợ Cũ đến ngã tư Chợ Mới, Ninh Thạnh nhiều người biết tiếng tôi, và muốn nghe tôi đọc truyện để coi thử có đúng với tiếng đồn hay không? Trọn 7 tháng trời, tôi đọc các bộ truyện “Tam quốc”, “Thuyết Đường”, “Tây du”, “Lục mẫu đơn”, “Phong thần”... của bà Ba.
Vừa nghỉ đọc truyện tại nhà bà Ba, thì tôi được dượng Hai Sửu “mướn” rồi kế tiếp đến nhà bà Hai Lộc, cô Ba Nhiều, bà Tư Tùng.... Từ đó, mọi người tặng tôi cái biệt danh “thằng nhỏ học trò đọc truyện mướn”. Mà nào riêng gì tôi, các bạn học của tôi khi đọc truyện mướn để có 2 xu ăn quà cũng được mọi người trìu mến gọi như thế”.