1.Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết nhiều và từng nổi tiếng với các tiểu thuyết “Cù lao tràm”, “Đứng trước biển”… và một loạt kịch bản phim truyền hình. Anh viết khỏe. Sung sức. Chưa hề tỏ ra mỏi mệt.
Với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lại khác. Anh cho biết chuẩn bị đề cương rất kỹ, từng chi tiết và khi đã “chín” mới bắt tay vào viết. Ngày báo Thanh Niên muốn in nhiều kỳ truyện mới của bộ “Kính vạn hoa”, anh không trả lời vội. Vào một ngày đẹp trời, anh ra Vũng Tàu. Một mình, một phòng và suy nghĩ suốt mấy ngày liền về cốt truyện sẽ viết. Khi viết được những dòng đầu tiên, cảm thấy đã có thể viết được, anh mới điện thoại cho tòa soạn. Sau đó, từng kỳ truyện dài của anh được công chúng đón nhận rầm trời. Báo cũng tăng số lượng vùn vụt.
Khi viết văn mỗi người một kiểu. Thời trụ sở Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh còn ở Nguyễn Văn Đậu (Quận Bình Thạnh), nhà văn Nguyễn Quang Sáng có phòng riêng vì ông là Chủ tịch hội. Thỉnh thoảng anh em vào chơi thấy ông ngồi viết, chỉ khoác ngang vòng bụng cái khăn lông, cởi trần, viết tay trên từng trang giấy trắng. Ông cười hề hề: “Như thế này mới thoải mái. Không gò bó mới dễ viết”.
Có lần ông bảo: “Tao không viết vào ban đêm. Nhất là những lúc đã nhậu "sương sương". Sáng mai đọc lại thấy câu văn “bốc” quá là xóa sạch". Ông có thói quen là ngẫm nghĩ rất kỹ một truyện ngắn trong đầu và có thể kể lại làu làu từng câu, từng chữ. Kể đến lúc thật “nhuyễn”, không còn thấy lợn cợn gì, ông mới viết ra. Có nhiều nhà phê bình cho rằng Nguyễn Quang Sáng là người kể chuyện độc đáo. Đọc truyện ngắn của ông ta luôn có cảm giác rất thật, rất hay là nhờ vậy chăng?
2.Có người, dù không thọ giáo ngày nào nhưng đọc tác phẩm của họ, tự ta đã xem họ là thầy. Như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, sống trên đời bằng nghề cầm bút mà để lại cả trăm tác phẩm có giá trị phải là người tự đặt cho mình một kỷ luật nghiêm ngặt, mới có thể lao động phi thường như thế.
Xin được “công bố” lịch làm việc trong một ngày của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Sở dĩ tôi biết là do đọc nhiều những ghi chép của ông: 6 giờ sáng thức dậy, tập thở, xoa bóp thân thể rồi đi bộ; 7 giờ ăn sáng, uống trà và đọc sách đến 8g; sau đó ông ngồi vào bàn làm việc đến 11giờ 30; nghỉ trưa đến 14 giờ; thức dậy lại đọc sách và tiếp tục viết cho đến 17 giờ chiều; 18g ăn tối, xong nghe nhạc; 21 giờ ngủ.
Ròng rã mấy mươi năm ông vẫn duy trì đều đặn như thế, bất kể thời tiết nóng lạnh ra sao quả đáng khâm phục. Có lần, ông bảo, cứ đến giờ là ngồi vào bàn viết, chứ không cần phải đợi cảm hứng có đến hay không? Nghe đâu nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Khải... cũng có suy nghĩ như thế. Và do lao động miệt mài, nghiêm túc với nghề nên họ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có chất lượng tốt.
Không rõ nhà văn Nguyễn Hiến Lê khi trò chuyện với văn hữu ra sao, chứ nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Nhật Ánh, tôi nhận thấy họ có điểm chung là khi trình bày một vấn đề gì cũng mạch lạc, khúc chiết, dễ hiểu và lập luận sắc bén. Ngày mới vào nghề báo. có lần phỏng vấn nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi nhận thấy anh cũng có cách trả lời gẫy gọn, dễ ghi. Thậm chí theo ngữ điệu của từng câu nói, ta có thể biết đến đâu là dấu phẩy, đâu là dấu chấm… Trong khi đó, với ông Sơn Nam lại khác. Hỏi vấn đề A, ông lại lái qua B và cứ dông dài chuyện mình đang thích nói hơn là đi vào trọng tâm câu hỏi của nhà báo. Ai ghi sao thì ghi. Ông cứ khề khà tràng giang đại hải….
Hồi còn ở báo Tuổi Trẻ, ban biên tập giao tôi đặt bài ông viết về món ăn Nam Bộ. Tôi ghé căn nhà ông đang ở trọ trong con hẻm ở đường Lý Thường Kiệt để lấy bài. Bài ông đánh máy nhưng không đặt tựa. Sau này, tôi mới rõ nhiều bài báo khác của ông cũng vậy. Tòa báo muốn tựa gì, cứ việc; muốn cắt xén ra sao, cứ việc. Ông không quan tâm. Ông cho rằng, chuyện mình, mình viết; chuyện của tòa báo thì họ cứ làm. Miễn sao… nhuận bút trả nhanh, trả nhiều là được.
Thái độ này theo tôi là tính cách của một nhà báo chuyên nghiệp. Viết bất kỳ thể loại nào, ông cũng ký tên thật, không xài bút danh. Không núp dưới cái tên khác để che giấu những bài viết mà mình không dám chịu trách nhiệm.
Vậy nên, cái nghiệp cầm bút nó nhọc nhằn quá đi mất. Từng giọt mồ hôi ròng ròng tuôn theo dòng chữ đã viết, mấy ai đã thấu hiểu? Tự nhủ, “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, những số phận lữ hành cô độc ấy vẫn lầm lũi băng qua sa mạc đang hiện diện trước mắt mỗi ngày là cái màn hình. Phẳng đến lạnh lùng. Chẳng cần gì tiếng vỗ tay. Chẳng cần gì lời động viên. Những gì đã viết, nếu có duyên với nhau, không lúc này ắt lúc khác sẽ có người thành tâm chia sẻ.
3.Đọc lại quyển “Chương Dân thi thoại” của Phan Khôi, làm sao không hứng thú với chi tiết: “Cách đây hai mươi năm, tôi (Phan Khôi) có ông dượng tên Nguyễn Lâm, Ấm Sinh, con quan Phụ đạo Nguyễn Thành Ý, đi Đàng Trong về, đọc cho tôi nghe bài thơ Tống biệt của người bạn ở Bình Thuận:
Trái mù u trên núi
Chảy xuống cửa Phan Rang
Ông đi về ngoài nớ
Trong lòng tôi chẳng an
Bao giờ ông trở vô
Gặp tôi ở giữa đàng
Nắm tay nói chuyện chơi
Uống rượu cười nghênh ngang!
Ông dượng tôi đọc bài ấy cốt để làm trò cười, ý ông cho là thơ gì mà nói như nói chuyện vậy. Bấy giờ tôi còn bé, thấy ông cười cũng cười. Sau tôi tỉnh ngộ ra, biết là hay, thì ông Lâm đã chết. Bài ấy mới nghe dường như quê, nhưng tôi đã đọc cho mấy tay rành thơ nghe, ai cũng chịu”.
Ông Phan Khôi nhận xét đúng, quả là bài thơ hay. Bài thơ lấy vần “ang”, thoạt nghe ngang phè phè nhưng quý ở chỗ cái tình tri kỷ. Nếu sau này gặp lại, chẳng khách sáo, màu mè gì, dù gặp giữa đàng đi nữa cũng nắm tay nhau, nói cười rổn rảng rồi nốc rượu nghênh ngang! Còn gì khoái hơn?
Từ địa danh Phan Rang sực nghĩ đến vài địa danh ở miền Nam như: rạch Tắc Cậu, Củ Tron, Bãi Háp, bàu Ót Giang, quận Phong Nẫm, Cầu Kè, cửa biển Cái Cát, Cần Vọt, kinh Bò Ót, kinh Bà Bèo, kinh Lắp Vò, rạch Lá Buôn, vàm Trâu Trắng, Xoài Hột, Xoài Mút, vàm rạch Trà Lọt, Xẻo Gừa, rạch Cái Thia, rạch Chợ Đệm, Chắc Cà Đao, cù lao Tân Cù, kinh Bảy Ngàn, Cái Răng, bãi Háp, giồng Chùa Chim, hòn Cổ Cót, v.v... Chưa hiểu nghĩa, chỉ mới đọc lên đã nghe âm vang quê kiểng, thân thương lắm lắm... Nghe mát cả lỗ tai. Đọc sướng cả miệng.
Câu chuyện của Phan Khôi kể về bài thơ trên là nặng về cái tình. Có lẽ cho đến nay, nặng tình nhất với Tự Lực văn đoàn vẫn là nhà văn Vu Gia. Anh đã thực hiện nhiều tập sách nhất về các nhân vật chủ chốt nhóm này, có thể kể đến: “Khái Hưng - nhà tiểu thuyết”; “Thạch Lam - thân thế và sự nghiệp”; “Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học”; “Hoàng Đạo - nhà báo, nhà văn”; “Trần Tiêu - nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn”; “Tú Mỡ - người gieo tiếng cười”, “Thế Lữ - một khách tình si”. Nghe đâu, một tập sách khác về Xuân Diệu của anh cũng sẽ ấn hành nay mai. Với tôi, khi đọc văn chương của nhóm này, một trong những điều tâm đắc, yêu quý nhất vẫn là trong phép cư xử của họ nặng về cái tình.
Còn nhớ đến chuyện này, đã đọc đâu đó, đã lâu. Rằng, nhà văn Hoàng Đạo có viết truyện ngắn “Bóng thủy tiên” (in trong tập “Tiếng đàn” năm 1941), là một câu chuyện tình diễm lệ rất hay. Đọc xong, nhà thơ Thế Lữ đã “diễn” lại… thành thơ! Thế Lữ làm điều đó, có lẽ vì tình tiết trong truyện ngắn này phù hợp với thơ hay vì tình bạn? Có lẽ cả hai. Nay kể lại, nhiều người có thể không tin nhưng thưa rằng, “nói có sách mách có chứng”: Trong tập “Mấy vần thơ”, Thế Lữ ghi rõ “phỏng theo văn xuôi Bóng thủy tiên”. Nhắc lại cho tiết này, còn vì tôi muốn xác tín những gì đã viết ắt có sự đồng cảm của người khác, không lúc này ắt lúc kia.
Vậy nên, đã theo nghề thì hãy viết đi.