Cách nói lái này, ta có thể nhìn thấy trong bút danh của nhà văn, thí dụ trường hợp của nhà phê bình văn học Phong Lê là nói lái của Lê Phong, sau khi bỏ từ Sừ là tên thật; bút danh nhà thơ Bằng Việt là nói lái của tên thật Việt Bằng, sau khi không lấy từ Nguyễn là họ; nhà thơ Huyền Kiêu là đánh vần tên thật và nói ngược của Bùi Lão Kiều v.v…
Riêng nhà thơ Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ vì là con thứ, ông ký bút danh Nguyễn Thế Lữ, một cách nói lái tên của mình. Nhưng sau khi người anh cả mất thì ông bỏ chữ Thứ và lại có tên Nguyễn Đình Lễ. Với tên này, ông ký bút danh Đề Lĩnh - nói lái của Đình Lễ. Ông lại còn có tên Nguyễn Khắc Thảo - vì bố tên là Thuận, sau vì trùng tên với người trong họ nên bỏ. Con người rất tài hoa ấy đã tự nói về mình:
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi...
Không những là một trong những cây bút trụ cột của nhóm Tự lực Văn đoàn, khi làm báo Phong hóa, Ngày nay - nhà thơ Thế Lữ còn chứng tỏ là một nhà báo xông xáo, có khả năng viết nhiều thể loại nhưng sở trường nhất là viết bình thơ trong mục “Tin văn... vắn” với lối văn trào phúng, hài hước với bút danh Lê Ta, Lê Tây, Lê Ngã... và nó nổi tiếng đến độ ngày nay nhiều người vẫn còn nhớ vế đối của ông như:
Thế Lữ mừng xuân hai thứ lễ, một quả lê ta, một quả lê tây.
Có những câu đối lại như:
Tản Đà uống rượu cuộc đả tàn, ấy là hiếu chén? ấy là hiếu ấm?
Nguyễn Khắc Hiếu là tên thật của Tản Đà, hoặc:
Tường Lân ăn tết mấy lần tương, hai chai ở Bần, hai chai... hàng xóm!
Tường Lân là tên thật của Thạch Lam, hoặc:
Tường Lân ăn tết mấy Tần Lang, có cả chè bánh, có cả chè thạch.
Tần Lang cũng là bút danh của Thạch Lam, hoặc:
Lệ Chi hôm tết bảo chị Lê, vỹ nghĩa là đuôi, hay nghĩa là lớn.
Lệ Chi là bút danh của nhà văn Nguyễn Vỹ v.v...
Không những thế, khi ai đó xếp các mẫu tự lại làm bút danh cho mình, có lẽ chỉ họ mới biết ý nghĩa của nó. Trong dòng văn học Việt Nam hiện đại có nhà văn nổi tiếng Đái Đức Tuấn, bút danh TchyA. Rõ ràng bút danh này Tây chẳng Tây mà cũng chẳng ra Tầu.
Vậy nó là gì?
Có người đoán rằng, đó là cách viết tắt của “Ta chẳng yêu ai” (?) hoặc “Ta chỉ yêu Angèle”. Angèle là tên của một giai nhân ở phố Hàng Bún (Hà Nội) trong những năm 1930. Với cách viết này, bạn bè của ông gọi là... “Tẩy Xìa” hay “Tê Xia”! Nhà văn Vũ Bằng bình luận: “Lại có anh Trần Quang Trân ký Ngym - là “Người yêu mợ” hay “Người yêu mình” gì đó, nhưng đến cái tên “Tê Xia” này, nghe cứ tức như thể bò đá!”.
Tức thiệt đó chứ, ta thử liên tưởng đến tên nhân vật của nhà văn Nguyễn Công Hoan thì cũng rứa. Ai đời trong tiếng Việt lại có từ "Oẳn tà roằn" nào ai hiểu nghĩa là gì, ông Hoan ngụ ý nhằm chỉ hậu quả ngoại tình giữa người đàn bà An Nam với ông tây đen mũi lõ: "Té ra thằng bé con chàng mà nước da lại đen như cái cột nhà cháy! Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó là giống "Oẳn tà roằn" không biết chống gậy" - ban đầu có lẽ người ta chỉ thấy buồn cười. Nhưng rồi trải qua bao biến đổi, thay đổi về ngôn ngữ, nó vẫn "sống" sờ sờ, vẫn đồng hành cùng thời đại chúng ta đấy chứ?
Cho đến nay về bút danh nhà văn khi vận dụng chữ nghĩa, ta có thể nhìn thấy hai “trường phái” đã từng phổ biến, ấy là thế hệ sau vì ái mộ người đi trước, do đó họ có nhiều “môn đệ” nhất: Tú Xương – ông Tú Xương sinh ngày 5/9/1870 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc (Nam Định) được đời sau truyền tụng qua hai câu thơ - tương truyền là của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:
Kìa ai chín suối Xương không nát,
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn.
Lời tiên đoán không sai này. Không cần sống nhiều, chỉ tồn tại trên trần gian này 37 năm, nhưng Tú Xương lại thọ, rất thọ nữa là khác. Trong thế kỷ XX, trên trường văn trận bút có nhiều người cũng bắt đầu sự nghiệp văn học cũng bằng chữ “Tú” của Tú Xương. Có lẽ, ông là người có nhiều “môn đệ” nhất: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Tout seul: chỉ có một mình - Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Khờ, Tú Da, Tú Poanh... rồi Tú Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Rua (Trần Ngọc Bảo)... cũng tiếp bước đi theo con đường nghệ thuật của ông.
Về bút danh từ “Tử” hẳn ai cũng biết đến từ nhà thơ Hàn Mặc Tử, ngoài ra còn có thể kể đến Đồ Nam Tử (Nguyễn Trọng Thuật), Thanh Tùng Tử (Lê Văn Bái), Sử Bình Tử (Huỳnh Thúc Kháng), Hả Liên Tử (Nguyễn Ngọc Biện), Cồ Việt Tử (Nguyễn Duy Hinh)… Ta thấy có điều lạ là gần đây hầu như không thấy nhà văn, nhà thơ nào ký bút danh có kèm theo từ “Tử”. Có lẽ từ ấy đã gợi lên sự… xúi quẩy chăng?
Nhìn chung chơi chữ bằng cách nói lái, người ta còn áp dụng trong các câu đố, khiến người nghe phải vận dụng lấy sự thông minh, nhanh trí, linh hoạt nếu không sẽ bí rị bà rì. Nay, ta thử liệt kê xem sao. Đây là những câu thuộc loại đố mẹo: “Có một toán học sinh trên đến trường, gặp con cò đui thì chúng quay về. Tại sao?”. Cò đui là cò không thấy, nói lái là thầy không có. “Một bà già ra ao vớt bèo, gặp con cò ốm, bà quay về. Vì sao?”. Cò ốm là cò không béo, nói lái là bèo không có. “Có bà già bả quảy buồng dừa đem ra chợ bán, đi qua cầu làm rơi một trái, hỏi còn mấy trái?”. Bà quảy là bảy quả, rớt một còn lại sáu. “Rau gì tròn tròn dẹp dẹp, đập cái bẹp ra máu, là rau gì?”. Ra máu nói lái rau má. “Đầu rồng đuôi phụng mấy tia, là cây gì?”. Mấy tia nói lái mía tây. “Tròn lỗ méo hang là cái gì?”. Méo hang là máng heo.
Máng là vật dụng hình đường ống chẻ đôi, đặt ngửa, làm bằng vật dụng như gạch, gỗ, thiếc… bắt ngang dưới mái nhà dùng hứng và dẫn nước mưa. Vậy, câu tục ngữ “Cạn tàu ráo máng” thì máng hiểu theo nghĩa này? Không, chính vì có từ “tàu” nên ta biết “máng” cũng là từ nhằm chỉ cái chậu gỗ hoặc đóng bằng thiếc đựng thức ăn trong chuồng ngựa. chuồng heo. Mà “tàu”còn là từ được dùng để chỉ chuồng ngựa: “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”; chỗ nhốt voi cũng gọi “tàu” như tục ngữ có câu: “Nhà như tàu tượng” là cái nhà tuềnh toàng, bẩn thỉu, trống huơ trống hoác như cái chuồng voi. Từ cái máng quen thuộc này, ít ai biết, nó cũng là một trong vô số từ được sử dụng trong văn hóa “nói trớ” của người Việt, thí dụ, người vợ nói: “Tía nó ơi, hổm rày bầy heo nhà mình trở máng, tui lo quá”. “Trở máng” là từ dùng để chỉ heo/ lợn bỏ ăn vì bệnh hay lý do đáng lo ngại gì đó.
Má ơi, đừng có lấy chồng
Người dưng ở lộn cõi lòng con nao
Là trái gì?
“Con nao” nói lái cau non. Lại có câu đố cũng thuộc loại lái lắi léo: “Chèo sông, chống suối, hả họng cười ta” là trái gì? Nếu vận dụng nói lái, các bạn cũng tìm ta đáp án chính xác là “chống suối: chuối sống; cười ta: cà tươi”. Về vài loại bánh, ta có những câu đố như:
Con chi ở ngay bàn thánh
Tụng kinh rồi búng cánh bay lên
Là bánh gì?
Búng cánh nói lái thành bánh cúng. “Chợ trong không bán, bán tránh chợ ngoài” là bánh gì? Bán tránh nói lái thành bánh tráng. Độc đáo không kém là trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Trần Văn Khê có kể lại câu chuyện ông cậu năm là soạn giả Nguyễn Tri Khương có ra câu đối thuộc dạng nói lái:
Ông mượn cháu đi Giồng Dứa mua dừa giống về ương mộng.
Ta biết, “ông mượn” nói lái là “ươn mộng”, ươn phát âm cũng như ương; Giồng Dứa là “dừa giống”. Khi nói “ương” ta cũng hiểu như “ươm” có nghĩa là gieo trồng, chăm sóc cho cây con phát triển tốt, cứng cáp rồi đem trồng nơi khác. Không chỉ có thế, tùy ngữ cảnh, ương còn chỉ trái cây gần chín, mà còn hiểu theo “Nghĩa bóng: nói tính gàn dở bướng bỉnh: Người có tính ương” - theo “Việt Nam tự điển” (1931), đích thị là ương dở, ương gàn, ương ách, ương ngạnh, ương bướng…
Với từ ương, ca dao Nam Bộ có câu: “Nước còn khi chảy khi ương/ Ngẫm tôi với bậu lương khương quá chừng” thì ương/ nước ương là nhằm chỉ con nước không dâng, không hạ, lình bình, lờ đờ, dở ròng dở lớn - thường xảy ra vào mồng Chín, mồng Mười âm lịch hằng tháng. Câu ca dao trên cho biết, mối tình này chưa bề nào ra bề nào, còn lương khương, lở dở... Về câu đố của ông Nguyễn Tri Khương, muốn đố lại, tất nhiên dù theo phép đối xứng nhưng cũng phải nói lái:
Chồng sai vợ ra chợ Thủ kêu chủ thợ về chài sông.
“Chồng sai” nói lái “chài sông”, “chợ Thủ” nói lái “chủ thợ”. Vậy, chợ Thủ ở đâu? Khó xác định bởi “thủ” là giữ gìn, canh giữ, canh thủ với các từ liên quan như trại thủ, đồn thủ mà nhiều địa danh ở trong Nam gắn với từ thủ, chẳng hạn:
Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Đoàn
Anh phải lòng nàng tại Thủ Chiến Sai.