Trong tiểu thuyết “Rừng nho” (1942) của nhà văn Ngô Tất Tố, có đoạn viết về tâm sự nữ sĩ Hồ Xuân Hương: “Đời đã chó má như vậy, thân thế của ta sau này sẽ đi ra con đường nào? Quanh quẩn nghĩ đi nghĩ lại, nàng vẫn chưa tìm được câu trả lời”; nhà văn Vũ Trọng Phụng viết trong truyện ngắn “Một đồng bạc” (1939): “Bao nhiêu cái gì là ích kỷ, là đê hèn, là chó má, là tàn nhẫn, lúc ấy đều thức dậy cả trong cái tấm lòng khốn nạn của tôi”.
Với vài dẫn chứng này, ta thấy từ “chó má” rất phổ biến. Vậy, từ “má” này ở đâu ra?
Trong “Việt ngữ nghiên cứu”, ông Phan Khôi cho rằng: "Người Tày gọi con chó là "tu ma", cái thành từ "chó má" của ta, tiếng "má" ấy có lẽ bởi tiếng "ma" của Tày này mà ra; có một số danh từ của Tày giống của ta lắm".
Trong khi đó, ít ra đến cuối thế kỷ XIX, ở trong Nam người ta vẫn hiểu: “Chó má: Tiếng đôi chỉ nghĩa là chó; bộ ngộ nghĩnh dễ thương. Nói về con nít; Chó má: Đẹp đẽ, ngộ nghĩnh. Tiếng khen con nít mới đẻ xinh tốt mà không dám nói ngay” - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895). Không rõ từ thời điểm này, từ má/ chó má không còn hiểu theo nghĩa này? Không ai có thể giải thích, kể cả tại sao từ “má” lại cặp kè với lúa/ lúa má nhằm chỉ nghĩa lúa thóc nói chung? Có phải biến âm của từ “mạ”? Mạ là cây lúa non dùng để cấy, có những từ liên quan như cấy mạ, gieo mạ, nhổ mạ, “Khoai đất lạ, mạ đất quen”…
Hết mạ ta lại cấy thêm
Hết lúa ta lại mang tiền đi vay
Lại nữa, ta cũng có từ “thuế má”, “má” ở đây chính là khóa/ thuế khóa mà khóa có nghĩa “Một thứ thuế” - theo “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh; “Hán Việt tân từ điển” (1975) của Nguyễn Quốc Hùng xếp chung thuế má/ thuế khóa. Không những thế, ta lại có “rau má”: “Không có cá lấy rau má làm trọng”…
Anh như chỉ thắm thêu cờ
Em như rau má mọc bờ giếng thơi
Sao lại gọi má/ rau má? Rõ ràng, những trường hợp này, “má” là từ đồng âm nhưng dị nghĩa. Khó có thể giải thích rành mạch.
Trở lại với từ “chó má”, “Tự điển Việt - Pháp” (1898) của Génibrel giải thích: “Má. Chó má, Chien”. Rõ ràng, má cũng chó (chien), là từ đôi cùng nghĩa. Từ đây, ta đã có thể giải thích câu chê trách trong lời ăn tiếng nói, thí dụ: “Hắn ta làm không ra giống má gì cả”, ở đây không nói toẹt ra “giống chó gì cả”. Hiểu như thế, ta mới thấu được lời phê phán nặng nề trong câu ca dao:
Cháu cậu mà lấy cháu cô
Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta...
Trong “Việt Nam phong tục” (NXB TP Hồ Chí Minh - 1990) của Phan Kế Bính cho biết: “Họ ngoại thì con cô con cậu hay là đôi con dì cũng không được phép lấy nhau. Từ đời cháu trở đi thì được phép lấy. Có câu rằng: “Cháu cậu mà lấy cháu cô, thóc lúa đầy bồ, giống má nhà ta” (tr.21).
Về vấn đề này, khi phụ trách chuyên mục “Chuyện xưa, chuyện nay” của nguyệt san Pháp luật TP Hồ Chí Minh, với bút danh Anh Phó, luật sư Phan Đăng Thanh cho biết: “Cách tính hiện nay, theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao, điểm c, mục 1: “Đối với những người cùng một gốc sinh ra thì cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em ruột là đời thứ hai; con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì, con già là đời thứ ba”. Theo pháp luật thời xưa ở nước ta, bà con đến đời thứ tư (như cách tính của chúng ta hiện nay) đã được phép kết hôn, lấy nhau. Còn về phong tục tập quán trong dân gian thì do ảnh hưởng của Nho giáo, tùy nơi tùy lúc có khi sự cấm kỵ còn được áp dụng với phạm vi còn rộng hơn luật pháp nhà nước nữa” (Nguyệt san số 8 - tháng 9/1997).
Về chữ nghĩa, ta hãy xét từ “mà” xuất hiện trong ngữ cảnh này, nó ngầm có chủ đích rõ ràng. Chủ đích gì?
Từ “mà” có nhiều nghĩa, căn cứ vào “Việt Nam tự vị” (1931): “1. Tiếng đệm để chỉ cái chủ đích của tiếng nói trên: Làm mà ăn, ngồi mà bàn chuyện; 2. Tiếng đệm để nối việc kể ở câu sau với việc ở câu trước cho cân nhau: Kính người trên mà thương kẻ dưới; Thưởng người có công mà phạt kẻ có tội; 3. Tiếng đệm để thay ý phần trước nối với phần sau cho mạnh câu: Việc mà ta làm đây là việc hệ trọng; 4. Tiếng đệm để tỏ ý câu dưới trái với câu trên: To đầu mà dại; 5.Tiếng đặt ở cuối câu, hàm ý hiểu ngầm ở sau mà không nói ra: Đã bảo thế mà”.
Vậy, từ “mà” trong các câu như “Cháu cậu mà lấy cháu cô” hoặc “Con kiến mà kiện củ khoai”, “Có võng mà chẳng có đòn/ Có chồng mà chẳng có con mà bồng”… đóng vai trò ở nghĩa thứ 4. Nghĩa thứ 4 này, cũng được hiểu là chỉ nghĩa vặn lại; từ biểu thị điều sắp nêu ra là không phù hợp với điều vừa nói đến, có gì trái với lẽ thường. Nếu bỏ đi từ “mà” các câu trên vẫn có nghĩa nhưng mất đi hàm ý nối hai sự vật/ sự việc trái ngược nhau như một cách nhấn mạnh hơn nữa, là chuyện không thể xảy ra thế mà vẫn xảy ra, thật trái khoáy.
Khi nói “cháu cậu mà lấy cháu cô” thì toàn bộ sự ngạc nhiên, biếm nhẽ, chê cười đã dồn trong từ “mà” - ngụ ý là lời ta thán về sự tréo ngoe như sử dụng các từ “ai đời”, “ai ngờ”, “thế mà cũng”… Nếu bày tỏ đồng tình, tán thành ắt phải dùng từ khác, chẳng hạn “Cháu cậu được lấy cháu cô”. Nói thế này, biết đâu có người không đồng ý vì câu kế đã nói rõ về “ích lợi” của việc xe duyên này: “Thóc lúa đầy bồ” là cho thấy dẫn đến kết quả tốt đẹp kia mà?
Đúng là thế, nhưng cú “đá giò lái” cực hiểm đã thể hiện qua cách chơi chữ tài tình buộc ta phải ngầm hiểu qua nghĩa khác, “nói dzậy mà hổng phải dzậy” là ở cụm từ “giống má nhà ta”.
“Giống má: Giống để gieo trồng, nói khái quát”- “Từ điển tiếng Việt” (1988) nhưng cũng đồng âm với dòng giống/ nòi giống: “Nòi nào giống nấy”, “Dòng nào sanh giống nấy”. Như vậy, “giống má nhà ta” là chơi chữ ở cả hai nghĩa: do giống gieo trồng nên nhà ta “thóc lúa đầy bồ”, nhưng “giống” còn hiểu dòng giống lại là thứ giống má, có ý cùng nghĩa nhằm chỉ sự khinh miệt.
Có thể nói, đây một trong những câu ca dao tiêu biểu cho cách nói phê phán hết sức lắt léo, tinh tế của người Việt, thoạt nghe tưởng là thế, là thế nhưng ngẫm lại thì không phải thế. Thể hiện cách diễn đạt kín kẽ ấy vẫn là lúc người ta chọn lấy từ nào đắc địa nhất, vừa hiểu nghĩa này vừa hiểu nghĩa kia. Không nói toẹt ra nhưng do cách chơi chữ khiến người nghe phải ngầm hiểu.
Không chỉ xưa mà nay cũng thế, luật sư Phan Đăng Thanh cho biết có những trường hợp dù cách nhau đến 5 đời nhưng các bậc phụ huynh cũng quyết không tán thành hợp duyên cho “đôi trẻ”. Điều cho thấy mối quan hệ được phép kết hôn không đơn thuần chỉ căn cứ vào quy định nhà nước, mà còn là ràng buộc của dòng tộc, dòng họ, huyết thống...
Về chuyện này, không chỉ “Cháu cậu mà lấy cháu cô”, ta còn gặp trường hợp tương tự qua câu tục ngữ: “Cháu đôi con dì xù xì lấy nhau”, từ “xù xì” ấy bản thân nó đã thể hiện một thái độ.
Cháu cậu mà lấy cháu cô
Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta...
Thế nhưng tại sao lại có từ “má” hiểu theo nghĩa này? Vậy, ắt phải từ vay mượn, có phải từ tiếng Tày như ông Phan Khôi suy luận?
Chúng tôi đồng ý với quan điểm của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Bạt Tụy khi ông cho rằng, trong tiếng Việt “có những tiếng mượn ở nhiều gốc khác nhau và trong sự mượn tiếng, không sao tránh được những tiếng trùng nghĩa. Thí dụ, “cẩu” gốc Hán và tiếng “má” gốc Thái cùng nghĩa là “chó”. Rồi theo đào thải tự nhiên, những tiếng trùng nghĩa không chóng thì chầy cũng loại trừ lẫn nhau mà chỉ những tiếng được thông dụng còn lại, để những tiếng yếu thế mai một đi, hoặc biến nghĩa đi. Trong tiếng đôi “chó má”, với tiếng nôm “chó”, gốc ở “cầu” và thông dụng hơn cả “cẩu”, ta thấy tiếng “má” đã thành một tiếng phụ mà nhiều người không còn nhận rõ nghĩa nữa”, theo “Việt ngữ tinh hoa từ điển” của Long Điền - NXB Hoa Tiên - 1952).