Từ “ma trận bản quyền” đến các vụ khởi tố
Việc BH Media và một số công ty bị bắt vì vi phạm Quyền sở hữu trí tuệ đã vạch rõ những khoảng trống pháp lý của vấn đề này tại Việt Nam, đồng thời, đó cũng là một lời cảnh báo rằng ngành công nghiệp âm nhạc Việt Nam đang bước vào giai đoạn buộc phải vận hành chuyên nghiệp, minh bạch hơn và tôn trọng tài sản trí tuệ như một giá trị cốt lõi.
Từ các vụ khởi tố liên quan đến BH Media và một số đơn vị khai thác nội dung số, câu chuyện bản quyền âm nhạc tại Việt Nam không còn dừng ở tranh cãi giữa nghệ sĩ với doanh nghiệp. Điều được nhắc đến nhiều hơn lúc này là: vì sao một thị trường âm nhạc phát triển mạnh suốt hơn 10 năm qua lại tồn tại quá nhiều “khoảng trống” về quyền sở hữu trí tuệ? Những đơn vị bị khởi tố đều là những thương hiệu quen thuộc với khán giả yêu nhạc. Họ sở hữu lượng người theo dõi khổng lồ, tạo ra doanh thu đáng kể từ YouTube và các nền tảng streaming. Nhưng nhiều năm qua họ ngang nhiên vi phạm bản quyền mà không bị xử lý.
Một trong những nguyên nhân khiến tranh chấp kéo dài nhiều năm chính từ sự thiếu hiểu biết về quyền tác giả và quyền liên quan. Nhiều người vẫn nhầm lẫn rằng chỉ cần xin phép ca sĩ là có thể khai thác ca khúc, trong khi một sản phẩm âm nhạc có thể liên quan đồng thời đến quyền của nhạc sĩ, người phối khí, nhà sản xuất bản ghi, đơn vị phát hành và người biểu diễn. Ngay cả nhiều nghệ sĩ Việt cũng không phân biệt được “quyền tác giả” và “quyền liên quan”. Vấn đề lớn nhất của Việt Nam không nằm ở việc “không có luật”, mà nằm ở khoảng cách rất xa giữa luật pháp và thực tiễn vận hành của ngành công nghiệp âm nhạc số. Nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn - Giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) cho biết, phần lớn tranh chấp hiện nay xuất phát từ việc người sử dụng âm nhạc nghĩ rằng chỉ cần xin phép ca sĩ hoặc trả tiền cho một bên là đủ. Trong khi trên thực tế, để khai thác hợp pháp một ca khúc trên môi trường số, có thể phải xin phép nhiều chủ thể khác nhau.
Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có nhiều sửa đổi theo hướng tiệm cận quốc tế, nhưng tốc độ thay đổi của nền tảng số còn nhanh hơn nhiều. TikTok, YouTube Shorts, livestream… tạo ra hàng nghìn hình thức khai thác âm nhạc mới mà pháp luật khó theo kịp. Một video ngắn trên TikTok có thể sử dụng 15 giây của một bài hát và đạt hàng chục triệu lượt xem. Nhưng ai sẽ được hưởng doanh thu? Việc “dùng chùa” âm nhạc trên các nền tảng rất phổ biến. Chính sự dễ dãi ấy tạo nên một hệ sinh thái khai thác âm nhạc thiếu kiểm soát suốt nhiều năm.
Theo VCPMC, từ năm 2019, nguồn thu bản quyền digital đã chiếm khoảng 86% tổng nguồn thu tác quyền âm nhạc tại Việt Nam. Điều này cho thấy phần lớn giá trị của âm nhạc hiện nay nằm trên nền tảng số chứ không còn ở CD hay biểu diễn truyền thống. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát và phân chia doanh thu trên môi trường số vẫn thiếu minh bạch. Nhiều nghệ sĩ phản ánh họ không biết chính xác bài hát của mình được khai thác bao nhiêu lần, doanh thu thực nhận là bao nhiêu và dữ liệu được thống kê theo cơ chế nào.
Có những vụ việc điển hình về vấn đề bản quyền được nhắc lại trong thời gian qua đó là vụ Quốc ca bị tắt giữa chừng do lo ngại vi phạm bản quyền âm nhạc từ BH Media trong trận Việt Nam - Lào ở vòng bảng AFF Cup 2020. Lần đầu tiên công chúng nhận ra hệ thống Content ID trên YouTube có thể tạo ra quyền lực rất lớn cho các đơn vị quản lý nội dung. Hay vụ nhạc sĩ Giáng Son bị BH Media đánh “gậy bản quyền” với ca khúc do chị sáng tác là “Giấc mơ trưa”. Khi nhạc sĩ Giáng Son đăng tải bản ghi âm gốc do chính chị sở hữu lên kênh YouTube cá nhân, hệ thống đã gửi thông báo xác nhận bản quyền từ phía BH Media. Trong khi đó BH Media chỉ thu mua một bản ghi (quyền liên quan) qua đơn vị sản xuất nội dung trung gian, nhưng lạm quyền, “đánh gậy bản quyền” với mọi bản thu “Giấc mơ trưa”, như thể BH Media đã sở hữu cả quyền tác giả “Giấc mơ trưa”.
Đây là ví dụ điển hình cho “ma trận” của những tranh cãi, nhập nhèm về khai thác bản quyền, tác quyền âm nhạc trên không gian số.
Một nghịch lý khác của Việt Nam là thị trường nhạc số tăng trưởng rất nhanh nhưng văn hóa trả tiền cho nội dung vẫn còn yếu. Khán giả Việt Nam đã quen với việc nghe nhạc miễn phí trên YouTube trong suốt nhiều năm. Điều này khiến doanh thu streaming ở Việt Nam thấp hơn nhiều các quốc gia trong khu vực dù lượng người nghe lớn. Trong bối cảnh đó, không ít doanh nghiệp chọn cách khai thác “lách luật”: cover, remix, livestream hoặc đăng tải lại nội dung để kiếm tiền quảng cáo thay vì đầu tư sở hữu bản quyền đầy đủ. Theo báo cáo của VCPMC, năm 2023, trung tâm này thu hơn 344 tỷ đồng tiền tác quyền âm nhạc, trong đó lĩnh vực website và ứng dụng nhạc chiếm hơn 260 tỷ đồng. Con số đó cho thấy âm nhạc hiện đã là một ngành kinh tế thực sự, chứ không còn đơn thuần là hoạt động nghệ thuật.
Cú hích cho sự minh bạch và chuyên nghiệp hóa
Trong nhiều năm, nhạc sĩ và chủ sở hữu quyền tác giả tại Việt Nam gần như không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trên môi trường số. Nếu không có các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, phần lớn tác giả nhỏ lẻ gần như không thể tự thu được tiền từ việc sử dụng tác phẩm của họ.
Câu hỏi cần đặt ra hiện nay không phải là có nên bảo vệ quyền tác giả hay không mà làm thế nào để xây dựng được một cơ chế cấp phép và phân chia doanh thu phù hợp hơn với môi trường số. Chúng ta cần xây dựng một hệ sinh thái âm nhạc minh bạch hơn. Việt Nam hiện thiếu cơ sở dữ liệu bản quyền thống nhất, thiếu cơ chế công khai doanh thu streaming và thiếu hệ thống kiểm toán độc lập trong phân chia tác quyền. Trong khi đó, nhiều nghệ sĩ trẻ vẫn ký hợp đồng rất cảm tính, thậm chí không nắm rõ mình đã chuyển nhượng quyền gì cho công ty quản lý.
Nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc ViruSs cho rằng, thị trường đang tồn tại “một ma trận tác quyền” mà ngay cả người làm nghề cũng nhiều khi không hiểu đầy đủ. Anh nhận định nghệ sĩ, producer hay các đơn vị phân phối đều buộc phải trang bị kiến thức pháp lý về bản quyền nếu không muốn đối diện rủi ro lớn trong tương lai.
Nhạc sĩ Giáng Son cho rằng, điều mấu chốt đó là luật về Content ID của Youtube. “Chúng ta cần phải đề nghị Youtube sửa luật rằng không phải đưa lên trước, có Content ID trước thì người đó là chủ sở hữu bản ghi đó. Cần phải đưa ra chứng minh là tác giả, hoặc đã xin phép tác giả, các quyền liên quan, hợp đồng cho phép khai thác v.v… thì mới là chủ sở hữu được. Các tác giả cũng nên tìm hiểu về quyền của mình và luật sở hữu trí tuệ trên không gian số. Đặc biệt khi ký hợp đồng hợp tác với bên khai thác nào thì cũng đọc thật kỹ để tránh sai sót. Tôi cho rằng trước ma trận của bản quyền thì bản thân mình phải là người hiểu biết tối thiểu để bảo vệ mình trước khi các hiệp hội bảo vệ tác phẩm của mình”.
Chị cũng nhấn mạnh rằng, luật sở hữu trí tuệ ở nước ngoài đã rất chi tiết và cặn kẽ, chúng ta nên tham khảo thật kỹ để phù hợp với tình hình bản quyền lộn xộn ở Việt Nam. Đó là những vấn đề bức thiết chúng ta cần phải làm để tạo dựng một cơ chế minh bạch, rõ ràng, tôn trọng sở hữu trí tuệ trên cơ sở pháp luật. Có như thế, chúng ta mới có thể phát triển công nghiệp âm nhạc một cách bền vững, văn minh.