Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

1.Nghe “Ma Xó” trở thành hiện tượng phòng vé, tôi tò mò tìm đến rạp. Mấy lần tôi muốn đứng dậy đi về bởi câu chuyện ngô nghê đang được kể. Nhưng lại nghĩ đã vào rạp thì cũng nên tôn trọng những người làm phim. Ngồi lại đến cuối, tôi càng thấy câu hỏi ban đầu trở nên nặng hơn: Vì sao một bộ phim như thế có thể thành công đến vậy?

“Ma Xó” kể một câu chuyện không phải không có tiền đề. Đời sống vợ chồng nghèo, hiếm muộn, một đứa con đầu đã mất, đứa con thứ hai còn nằm trong bụng mẹ nhưng có dấu hiệu nguy hiểm. Chỉ riêng chuyện ấy đã đủ là một nỗi sợ lớn. Nếu đi sâu vào nỗi đau ấy, bộ phim hoàn toàn có thể trở thành một bi kịch gia đình có sức ám ảnh. Người Việt Nam hiểu rất rõ nỗi đau con cái. Trong rất nhiều gia đình nghèo, một đứa trẻ chưa sinh ra đã là hy vọng, là niềm tin - chỗ bấu víu cuối cùng.

Nhưng bộ phim không ở lại đủ lâu với nỗi đau ấy. Nó trượt rất nhanh sang một thế giới thờ ma xó, cầu vong, xin số lô đề, tin vào những lời dẫn dụ mờ ám, rồi đẩy nhân vật vào những hành vi thiếu logic đời sống. Tôi không thấy ở đó sự giằng xé thật của những con người cùng đường. Tôi thấy sự mê muội được sắp đặt để phục vụ cho những cảnh hù dọa. Nói nhẹ thì là mê tín. Nói đúng hơn, có lúc phim đẩy mê tín đến cấp độ cuồng tín.

canh-trong-phim-lau-chu-hoa.jpg
Một cảnh trong phim “Lầu chú Hỏa”

Điện ảnh kinh dị có quyền bước vào bóng tối của con người. Nhưng bóng tối ấy phải được tổ chức bằng tâm lý, bằng số phận, bằng một thứ logic khốc liệt của đời sống. Ở “Ma Xó”, nhiều chi tiết giống như được đưa vào để kéo câu chuyện đi tiếp hơn là để mở ra bản chất nhân vật. Vấn nạn lô đề, một chất liệu xã hội rất đáng nói, lại trở thành cái cớ để ma xó báo số. Người này ép người kia làm những việc phi lý, nhân vật tin và sợ theo nhịp mà kịch bản cần, chứ không theo một tiến trình thuyết phục của tâm hồn.

Diễn xuất cũng thiếu độ sống. Một người con dâu mê tín đến phi luân khi nguyên nhân mất đứa con đầu là do mẹ chồng dẫn đến để mặc bà chết mà không cứu khi đứa con thứ hai trong bào thai. Tất cả là diễn biến tâm lý cảm xúc do kịch bản gượng ép tạo nên. Khi đời thường không thật, ma quỷ phía sau chỉ còn là kỹ thuật.

Cuối phim, nếu nhìn rộng lượng, có thể thấy bộ phim muốn tạo ra cú twist - một lớp lật: kẻ đứng sau không hẳn là thế lực vô hình, mà là một con người lợi dụng sự mê muội của đôi vợ chồng hiếm muộn để thực hiện hành vi tàn ác. Người cô - thầy cúng, kẻ thao túng tâm linh, đã rắp tâm dẫn dụ người khác thờ ma xó, rồi tìm cách lấy máu thai nhi vừa ra đời để tẩm vào xác con mình với hy vọng hồi sinh. Chi tiết ấy lẽ ra có thể biến bộ phim thành một lời cảnh tỉnh về mê tín. Nhưng vấn đề là một bộ phim không thể dành phần lớn thời lượng để kích hoạt mê tín, ngâm khán giả trong vong linh, bùa chú, hù dọa và ám thị, rồi đến cuối tự nhận mình đang phê phán mê tín. Một cái kết có vẻ trừng phạt kẻ ác không tự động biến cả bộ phim thành tác phẩm cảnh tỉnh…

2. “Lầu chú Hỏa” cũng là một bộ phim nổi lên như hiện tượng phòng vé cùng lúc. Phim có những nỗ lực nghề nghiệp đáng kể khi chọn lối kể giả tư liệu, dùng góc máy chủ quan của nhóm streamer để tạo cảm giác trực tiếp. Ở phương diện hình ảnh, ánh sáng, bối cảnh, đạo cụ, không gian căn nhà, bộ phim có sự cầu kỳ, được dựng như một không gian có ký ức, có mùi ẩm tối, với những góc chết khiến người xem bất an. Một số diễn viên trẻ diễn khá tự nhiên, phù hợp với chất người thật, camera góc nhìn chính họ, tình huống thật mà phim theo đuổi.

Không phủ nhận tài năng của ê kíp, nhất là bộ phận quay phim, thiết kế ánh sáng, mỹ thuật và âm thanh. Vì vậy, điều đáng tiếc ở “Lầu chú Hỏa” là dù có những khuôn hình được tính toán, có ánh sáng, có không gian, có cảm giác căn nhà đang thở trong bóng tối… nhưng phần tài khéo ấy phần lớn được dùng để đẩy khán giả vào trạng thái căng thẳng, thay vì kéo họ ra khỏi rạp với một ý nghĩ xa hơn về đời sống đang tạo ra chính nỗi sợ ấy.

Phim kinh dị đương nhiên phải tạo nỗi sợ. Nhưng nỗi sợ không phải đích đến cuối cùng. Trong những tác phẩm lớn của thế giới, kinh dị thường là con đường vòng để chạm vào những vấn đề sâu hơn. “Get Out” là một phim kinh điển về thể loại kinh dị không làm khán giả nhớ lâu vì vài cảnh hù dọa. Nó đáng sợ vì phơi ra một cơ chế chiếm hữu thân thể người da đen, một thứ phân biệt chủng tộc được che giấu dưới lớp lịch sự văn minh. “Train to Busan” không chỉ là xác sống trên tàu. Nó là câu chuyện về gia đình, bản năng sinh tồn, ích kỷ giai cấp và sự hy sinh của người cha. “Exhuma” không chỉ là huyền thuật và mộ táng. Nó chạm vào lịch sử, phong thủy, thân thể và những vết thương dân tộc của Hàn Quốc.

3.Chúng ta cũng có những điểm sáng. Tôi nghĩ đến bộ phim kinh dị “Nhà Gia Tiên”. Bộ phim ấy không hoàn hảo, nhưng nó cho thấy một hướng đi khác của chất liệu tâm linh. Cũng là người chết, cũng là bàn thờ, cũng là gia đình, cũng là tín ngưỡng, nhưng trung tâm của phim không phải hù dọa. Trung tâm là ký ức, đạo hiếu, sự nối tiếp giữa người sống và người đã khuất.

Bàn thờ trong đời sống Việt không phải một món đạo cụ. Nó có khói nhang, có những ngày giỗ, có bữa cơm cúng mẹ cha, có cái im lặng của người sống trước người đã khuất. Khi điện ảnh chạm vào bàn thờ, nó chạm vào phần rất sâu của gia đình Việt. Bởi vậy tôi thấy khác nhau rất xa giữa việc dùng bàn thờ như một nơi trở về của ký ức, với việc đặt nó vào khung hình chỉ để làm khán giả lạnh gáy.

mot-canh-trong-phim-ma-xo.jpg
Một cảnh trong phim “Ma Xó”

Một nền điện ảnh hiện đại cần nhiều thể loại. Cần hài, cần hành động, tội phạm, tình cảm, và cả kinh dị. Phim kinh dị còn có vai trò riêng trong công nghiệp điện ảnh. Nó có thể kéo khán giả trẻ ra rạp, tạo trải nghiệm cộng đồng, đào tạo đạo diễn, quay phim, dựng phim, thiết kế âm thanh, hóa trang. Ở nhiều quốc gia, kinh dị là nơi các nhà làm phim trẻ học cách kiểm soát nhịp điệu, không gian, điểm nhìn và cảm giác. Một căn nhà hẹp, hành lang tối, tiếng động rất nhỏ, nếu được tổ chức tốt, có thể trở thành trường học của điện ảnh.

Ngân sách vừa phải, ý tưởng rõ, truyền thông tốt, phát hành đúng lúc, phim có thể thắng lớn. Hollywood đã có Blumhouse. Nhật Bản từng có làn sóng J-Horror. Hàn Quốc, Thái Lan đều có cách riêng để biến nỗi sợ bản địa thành sản phẩm văn hóa có khả năng đi xa. Vấn đề không nằm ở thể loại. Vấn đề nằm ở chất lượng của nỗi sợ. Không phải nỗi sợ nào cũng có giá trị nghệ thuật. Có nỗi sợ mở ra nhận thức. Có nỗi sợ thanh lọc con người. Lại có nỗi sợ buộc ta nhìn lại gia đình, tội lỗi, lịch sử, bất công, lòng tham, sự vô cảm. Nhưng cũng có nỗi sợ chỉ là phản xạ thần kinh: một tiếng động lớn, khuôn mặt ma, vệt máu, xác chết, bàn tay thò ra trong bóng tối. Loại nỗi sợ ấy có thể bán vé rất nhanh. Nhưng sau khi đèn rạp bật lên, nó để lại gì?

4.Gần đây, Cục Điện ảnh đã lên tiếng trước tình trạng phim kinh dị gia tăng, nhiều tác phẩm tập trung quá mức mê tín, giật gân, trong khi chất lượng nghệ thuật, ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nhân văn và thông điệp xã hội chưa tương xứng. Đây không chỉ là câu chuyện quản lý. Đây là câu chuyện của chính những người làm nghề. Một nền điện ảnh không thể chỉ trông chờ kiểm duyệt nhắc nhở. Nó phải tự hình thành chuẩn mực bên trong: chuẩn mực của biên kịch, đạo diễn, nhà sản xuất, phê bình và cả khán giả.

Một bộ phim có thể chạm đến hàng triệu người chỉ trong vài tuần. Chính vì vậy, điện ảnh càng phải tự hỏi mình đang mang điều gì đến với công chúng. Nếu chỉ mang đến nỗi sợ, để chỉ dạy khán giả cách giật mình, chỉ tấn công vào phần bản năng tối nhất của đám đông, thì điện ảnh có thể thắng phòng vé nhưng thua ở chiều sâu.

Phim kinh dị Việt Nam có quyền phát triển. Thậm chí rất cần phát triển. Nhưng nó cần biên kịch tử tế hơn. Cần những nhân vật không chỉ sinh ra để chết. Điện ảnh kinh dị Việt cần những câu chuyện tâm linh biết phân biệt giữa niềm tin và sự mê muội, giữa đạo hiếu và lợi dụng đạo hiếu, và thờ cúng tổ tiên và buôn bán vong linh.

Một nền điện ảnh biết kể nỗi sợ của mình là điều đáng quý. Nhưng kể nỗi sợ khác với buôn bán nỗi sợ. Một bên cần tài năng, hiểu biết và lòng trắc ẩn. Một bên chỉ cần nắm được chỗ yếu trong tâm lý đám đông, rồi gõ vào đó đủ mạnh để phòng vé rung lên.

Khoảng cách giữa hai điều ấy không xa ở bề mặt. Nhưng ở sâu hơn, đó là khoảng cách giữa người làm phim muốn hiểu con người và người làm phim chỉ muốn khai thác phản xạ của con người. Nếu điện ảnh Việt Nam muốn vươn tầm, khoảng cách ấy không thể được che lấp bằng doanh thu, truyền thông hay những tiếng hét vang lên trong rạp tối.

Tô Giang

Các tin khác

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.