Từ năm 1334, trong chiếu chọn kẻ sĩ, vua Lê Thái Tông có viết: "Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là đầu".
Trong văn bia tiến sĩ năm 1442 danh thần Thân Nhân Trung đã khẳng định: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sĩ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí là công việc cần kíp. Bởi vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại đối với quốc gia như thế, cho nên được quý chuộng không biết dường nào. Đã được đề cao bởi khoa danh, lại thêm long trọng bằng tước trật. Ơn ban đã nhiều mà vẫn coi là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp nhạn, ban danh hiệu long hổ để ngợi khen. Báo tin mở tiệc, triều đình mừng được người tài, không việc gì là không là hết mức".
Vua Lê Thánh Tông là người đầu tiên có sáng kiến cho khắc tên Tiến sĩ vào bia đá để tôn vinh nhân tài và đặt ra lệ xướng danh - gọi tên người trúng tuyển một cách long trọng, đặt ra lệ vinh quy - rước Tiến sĩ về nguyên quán. Sự việc này diễn ra vào năm 1466.
Về lễ xướng danh đã được duy trì đến cả trong các khoa thi của triều Nguyễn sau này. Ngày xướng danh còn gọi là ngày truyền lô. Trải qua các triều vua, nghi lễ này có thay đổi nhưng đại thể là hôm ấy trong điện, đích thân nhà vua ngự điện. Ngài đội mũ xung thiên, áo bào vàng, đai ngọc. Các quan đại thần văn võ mặc triều phục và chia ban ra để đứng chầu trang nghiêm ở hai bên sân rồng. Có ban tâu lại quá trình tổ chức thi. Trong khi đó, có ban dẫn các vị tân khoa vào nhà công văn để ban phát áo mão của nhà vua, rồi lần lượt vào quỳ trước sân rồng.
Bấy giờ, quan Truyền lô mới xướng danh từng người một. Bảng danh sách này sẽ được treo ở kinh đô trong vòng vài ngày để thiên hạ chiêm ngưỡng. Nhà vua sẽ hỏi chuyện các vị tân khoa về kinh lễ, bàn chuyện hưng vong của đất nước... Sau khi được nhà vua hỏi han, trò chuyện, các vị tân khoa còn được ban yến tiệc ở công đường Lễ bộ. Ăn xong, mỗi vị đều dâng lên một bài biểu tạ ơn.
Thời nhà Nguyễn thì các quan Bộ Lễ lại dẫn các vị tân khoa, quan Giám thí vào tham quan vườn Ngự uyển, mỗi người đều mặc triều phục, cỡi ngựa che lọng. Xem hoa xong thì họ tiếp tục diễu xem phố xá của kinh đô...
Về mũ đai và áo mà nhà vua ban cho Tiến sĩ hình thức và vật dụng như thế nào?
Trong "Lịch triều hiến chương loại chí", nhà bác học Phan Huy Chú cho biết về "điều lệ mũ áo Tiến sĩ đời Lê" như sau: Các vị đậu Tam khôi và Hoàng giáp đều được nhà vua ban cho một cái mũ đội đầu có hai cánh lá đề tam sơn bằng thau. Đồng Tiến sĩ cũng được ban mũ cũng như thế, nhưng không có hai cánh. Đai của Trạng nguyên bịt bạc nặng một dật (mỗi dật là 10 lạng, tức một nén), làm bằng gỗ tốc hương bọc lụa màu tím than; hoa bạc một cây 9 cành nặng 9 đồng cân. Đai của Bảng nhãn bịt bạc nặng 8 lạng, cũng làm bằng gỗ tốc hương bọc lụa màu tím than; hoa bạc một cây 8 cành nặng 8 đồng cân. Đai của Thám hoa cũng giống như của Bảng nhãn, nhưng hoa bạc thì chỉ có cành và chỉ nặng 7 đồng cân. Áo chầu của các vị này đều bằng lụa đoạn huyền hoa liên vân.
Đai của Hoàng giáp thì cũng tương tự như trên nhưng lại bịt bằng thau, chứ không bịt bạc, còn hoa bạc thì chỉ có 6 cành và nặng 6 đồng cân. Đai của đồng Tiến sĩ bịt thau, nhưng được làm bằng sừng trâu và cũng bọc lụa màu tím than. Áo chầu đều dùng lụa ô sa. Mũ đai thì nhà vua ban ở cửa Đoan môn, còn hoa bạc thì ban ở công đường bộ Lễ. Các đời sau đều áp dụng như thế này. Duy mũ Đồng Tiến sĩ, trước không có tai, mà có đuôi, có ý phân biệt quá mức. Bấy giờ nhiều người đậu phụ bảng hổ thẹn đến nỗi tự tử chết, vua bèn sai bỏ cái đuôi, chỉ phân biệt ở chỗ không có cánh.
Ngày xưa nghi lễ rước Tiến sĩ vinh quy hết sức long trọng. Trong bài thơ "Mừng ông Nghè mới đỗ" của cụ Nguyễn Khuyến có những câu như:
"Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè,
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe
Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe"
Vậy "rước tùng xòe" cụ thể thế nào? Đọc lại trong tác phẩm "Lều chõng" của nhà văn Ngô Tất Tố có thể tìm ra câu trả lời. Nếu một nhà văn mà không có vốn sống, sức mấy viết nổi. Sau đây là tóm lược của chúng tôi: Thông thường, sau khi thi đậu ở Kinh, lãnh cờ biển xong thì vị tân khoa đi thẳng về tỉnh nhà và vào lễ ở nhà quan Tổng đốc, ngụ lại đó vài ngày hoặc ra luôn nhà trọ. Nhận được tin vui này, cả làng tổng náo nức đến đó để rước tân khoa về. Bốn chiếc võng, cờ quạt tàn lọng được dân đinh đặt sẵn trước nhà mà vị tân khoa đang trú ngụ. Trước tiên, vị tân khoa bệ vệ ngồi lên võng, tay chống vào chiếc gối xếp đặt ở đầu võng, rồi đến cha mẹ của tân khoa và cuối cùng là bà vợ của Tiến sĩ. Tuy nhiên, cũng có vị tân khoa vì kính trọng thầy dạy học của mình mà mời thầy ngồi ở võng đầu tiên.
Công việc đón rước và hình thức bài trí được sắp xếp như sau: Mấy chục người đồng loạt đặt võng trên vai chờ hiệu lệnh. Trước hàng ngũ chỉnh tề ấy là lá cờ đỏ thêu mấy chữ như "Nhất giáp Tiến sĩ". Rồi đến bốn chiếc lọng vàng cùng nghiêng vào che tấm biển sơn son thếp vàng "Ân tứ" có dòng chữ "Ân tứ vinh quy". Kế đến có hai người khiêng chiếc trống cái. Đi bên cạnh là ông Thủ hiệu oai vệ, đeo dùi trống giữa ngực. Sau hàng trống là bốn đứa trẻ nhỏ mặc áo đỏ, dải lưng xanh, xà cạp xanh, tay trái chống cạnh sườn, tay phải giương cao lá cờ phất to bằng quyển vở học trò. Kế đến nữa có người cầm một cái trống khẩu.
Và bấy giờ mới đến võng của vị tân khoa. Hai bên võng, có hai người che lọng xanh chóp bạc. Rồi tiếp đến là phất phới những lá cờ ngũ sắc rực rỡ, người người đi theo cầm cờ, người người nối theo nhau cầm kèn trống đàn sáo... Cuối cùng là hai người khiêng chiêng, tất nhiên bên cạnh cũng có ông thủ chiêng oai vệ sẳn sàng gõ dùi vào chiêng để tạo nên những âm thanh rộn rã...
Người dân lũ lượt kéo nhau ra xem đông như trẩy hội. Ông Lý trưởng phải xung phong đi trước để dẹp đám đông. Đám rước đông vui và náo nhiệt vô kể...
Sau ba hồi trống cái cùng với tiếng chiêng, tiếng trống khẩu nhịp nhàng hòa nhịp, đám rước bắt đầu. Tất nhiên lúc ấy tiếng sáo, kèn, nhị cũng nổi lên inh ỏi. Đi được vài chục bước, ông thủ hiệu trống thình lình thúc ba tiếng trống liên tiếp, để ra hiệu cho tất cả mọi người phải đứng lại. Với tư cách là người "giữ hiệu lệ của đám rước", một tay của ông chống thẳng vào sườn rồi khoan thai lui xuống năm bước. Bấy giờ, ông giang hai chân theo hình chữ "bát" để múa dùi trống mà tiến lên năm bước, rồi nện vào mặt trống những tiếng tùng tùng...
Dứt hồi trống thứ nhất, bốn cậu bé con cầm bốn lá cờ phất cùng quay mình chầu mặt vào nhau. Dứt hồi trống thứ hai, những người cầm cờ ngũ sắc múa tít cờ trong tay, rồi chạy cho hết chiều ngang của mặt đường, người bên phải xông qua bên trái và ngược lại - với mục đích là dẹp đường cho thông thoáng mà những người dân hiếu kỳ đang chen chật cả lối đi. Dứt hồi trống thứ ba những người này quay về vị trí cũ. Đến hồi trống thứ tư, cờ lại múa, bốn đứa trẻ dõng dạc bước ra giữa đường và đến hồi trống thứ năm là đám rước tiếp tục đi... Chiêng trống thỉnh thoảng lại điểm từng tiếng một.
Người đi xem như trẩy hội. Dân phu khiêng võng đã khổ, mồ hôi đầm đìa nhưng miệng câm như hến, còn ông Lý trưởng chẳng biết có mệt nhọc không chứ lúc nào cũng hùng dũng kề loa vào miệng:
- Bớ hai bên hàng xứ! Dẹp ra để quan lớn trẩy!
Tiếng loa vang dội tưởng như cả một góc trời bị xé toạc bởi âm thanh ấy.
Trong sử sách còn ghi lại trường hợp đám rước quan Nghè Lương Thế Vinh. Khi đoàn người đang đi oai nghiêm giữa tiếng trống, tiếng chiêng náo nhiệt thì ông tinh nghịch tụt xuống võng, chạy rẽ ra đường tắt chứ không đi theo lộ trình đã định, để ngang qua bãi chăn trâu - nơi mà ngày xưa ông từng chăn trâu, từng chỉ cho bạn bè cách câu cá, bẫy chim, chơi thả diều. Thế là đoàn người gồm võng lọng xa giá phải chạy theo ông. Đến nơi, họ thấy bọn trẻ chăn trâu đang công kênh đưa ông về làng trong tiếng reo hò vui vẻ...