Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Có lẽ nên hiểu một cách rộng rãi, “hẳn hoi” là một tính từ nói về cả ngoại diện, cái vỏ, hình thức; vừa nói về cái nội dung, cái lõi, phẩm chất của sự vật, hiện tượng với sự tích cực, tốt đẹp, trái nghĩa là tiêu cực, đen tối, xấu xí.

Hầu như dân tộc nào, trong kho tàng văn hóa dân gian, cũng mong muốn, khát vọng về sự “hẳn hoi”, tức mong muốn, khát vọng hướng tới sự tốt đẹp, hoàn hảo. Thần thoại Thánh Gióng của Việt Nam cũng sâu đậm một ý nghĩa ấy. Nghe tiếng sứ giả báo tin đất nước có giặc, đang là cậu bé ba tuổi, Gióng vươn vai lớn bổng khác thường rồi nói với sứ giả về tâu vua rèn một con ngựa sắt, một áo giáp sắt, một cây gậy sắt.

image003.jpg
Tượng Bác Hồ trên Đại lộ Jarwarhalal Nehru - Ấn Độ.

Nghe tâu truyền, vua cả mừng truyền y lời Gióng. Xong xuôi, ngựa sắt được đưa đến. Gióng bèn vỗ vào ngựa, ngựa bẹp giúm. Thì ra là ngựa rỗng, chẳng có tim gan… gì cả. Thợ phải rèn “bổ sung”. Chỉ khi sự vật theo đúng với định nghĩa của từ điển “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”, Gióng mới phi ngựa ra trận tiền. Ngựa mới có thể “phun ra lửa” giết giặc Ân. Một triết lý về sự “hẳn hoi” sâu sắc vô cùng!

Chuyện chống giặc giã là “quốc gia đại sự”, phải được coi trọng nhất. Có gì quan trọng, cấp bách hơn vận mệnh đất nước đâu? Khi Gióng vươn vai “lớn bổng khác thường”, tức Gióng đã thành “Thánh”, khác với người thường. Tức là rất thiêng. Trong bối cảnh ấy, thế mà vẫn có kẻ gian “bớt xén”… Tức vẫn có kẻ vô lương tâm, dựa lúc việc nước nguy nan để “thu lợi”, sẵn sàng lừa bịp cả Thánh thiêng để làm việc “bất chính”! Thì ra thiếu sự “hẳn hoi”, từ xưa đã có. Câu chuyện cũng như nói với hôm nay: muốn “bay lên” (như Thánh Gióng), trước hết phải “hẳn hoi” trong mọi việc.

Đuổi xong giặc, Gióng cùng ngựa bay lên trời cũng là bay vào bầu trời văn hóa Việt tôn vinh tinh thần xả thân một cách vô tư nhất của những người nghĩa sĩ… Còn là tư tưởng lớn: người anh hùng cứu nước vì dân, vì nghĩa, không ham một chút công danh, địa vị. Để có một Thánh Gióng, tất cả đều phải “hẳn hoi”. Chỉ cần một hai kẻ không “hẳn hoi” là tạo ra sự không “hẳn hoi”. Sẽ hỏng việc lớn. Truyện còn là sự triết lý về tính hệ thống: tất cả phải “hẳn hoi” mới “bay lên” được. Tất cả đều tốt, nhưng vẫn có một cá nhân xấu, cơ quan sẽ “rối như canh hẹ”. Người lãnh đạo lại thiếu “hẳn hoi”, tức “Nhà dột từ nóc”, thì thậm nguy. “Con sâu làm rầu nồi canh” là vậy!

Triết lý về tính hệ thống phải “hẳn hoi” có ở ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”. Thầy này ôm cái chân nói con voi như cái cột đình. Đúng quá. Thầy nọ sờ cái ngà, nói con coi như cái đòn càn. Không sai. Sờ tai, nói con voi như cái chổi sể. Cũng thật đúng… Nhưng các thầy chỉ đúng khi “sờ” (cảm nhận, đánh giá) ở “bộ phận”. Còn khi đặt trong tính hệ thống, toàn thể thì các thầy sai bét cả.

Dân gian đã tuyệt vời chí lý khi dạy: phải đặt vấn đề trong hệ thống “hẳn hoi” mới đánh giá chính xác được. Còn lười biếng, thiển cận (như các thầy bói mù), chỉ xem từng bộ phận, cái riêng lẻ (tức thiếu sự “hẳn hoi”), sẽ mang đến hậu quả (như các thầy bói kia đánh nhau “toạc đầu chảy máu”)…

Một ngụ ngôn cổ phương Đông có tên “Bạt miêu trợ trưởng” (nhấc mạ lên giúp lúa mau lớn), kể anh chàng nông dân nọ, vì muốn cho lúa mau tốt bèn kéo cây lúa cao lên, kết quả là lúa chết. Câu chuyện phê phán sự nóng vội, “duy ý chí”, thiếu tôn trọng quy luật khách quan, tức thiếu “hẳn hoi” nên hỏng việc. Có thể vì tính sâu sắc, trong những lời biện luận triết học của mình, Mạnh Tử hay sử dụng hình tượng này để chế giễu những người đi ngược lại quy luật biện chứng, hướng vào mục đích giáo dục tính kiên nhẫn, chịu khó, tránh chủ quan, nóng nảy.

Là nhà văn hoá lớn, Bác Hồ học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển, nâng cao tinh thần “hẳn hoi” trong truyền thống. Xét riêng trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (15 tập, NXB Chính trị Quốc gia 2011), có 37 lần xuất hiện hai chữ “hẳn hoi”. Bác dùng trong nhiều hoàn cảnh nhưng đều phù hợp với nghĩa thông dụng để toát ra một quan niệm khoa học về nhân cách, về sắp xếp công việc, về tổ chức hoạt động, đã nói là làm, làm phải có kế hoạch, có nguyên tắc, thống nhất, triệt để.

Tác giả Đỗ Hoàng Linh trong sách “Bác Hồ với những mầm non đất nước” (NXB Văn học, 2017) có dẫn câu nói của Bác: “Cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập”. Bác dùng hai chữ “hẳn hoi” khẩu ngữ, thông dụng nhưng tinh tế, sâu sắc. Muốn nước nhà “tự cường tự lập”, trước hết phải nuôi dưỡng giáo dục “con trẻ” một cách “hẳn hoi”. Cách viết cũng chính xác: “nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi”, phải “nuôi dưỡng” cho tốt, cho khỏe mạnh trước, rồi mới đến “giáo dục”. Để có “giáo dục hẳn hoi”, là một chiến lược lớn của ngành giáo dục.

Phương pháp làm việc của Bác là quan tâm trước hết đến “tổ chức”, tổ chức tốt mới có kết quả tốt. Vì vậy mọi công việc đều phải được “tổ chức hẳn hoi”. Hai chữ “tổ chức” là một từ “khóa” quan trọng trong trước tác Hồ Chí Minh. Trong mỗi phương diện, “hẳn hoi” lại biểu hiện một cách cụ thể.

Thấu hiểu tính cách nông dân Việt với nhiều nét hay và không ít nét dở, tiêu biểu là tùy tiện, luộm thuộm, khi bàn đến vấn đề Cần kiệm liêm chính, mục Cần, Bác mượn hình ảnh ngụ ngôn để nhắc nhở cán bộ làm bất cứ việc gì cũng phải có kế hoạch, biết sắp xếp chu đáo: “Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ.

Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, v.v. và làm sao xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bèn bắt tay vào việc đóng tủ” (“Hồ Chí Minh toàn tập” 2011, tập 6, tr 119). Ở đây toát lên một bài học làm bất cứ việc gì, kể cả việc nhỏ lao động chân tay thường ngày cũng phải có tổ chức, có quy trình, có thứ tự, phải biết sắp xếp một cách cụ thể, ngăn nắp.

Đuổi xong giặc, Thánh Gióng bay lên trời!

Đuổi xong giặc, Thánh Gióng bay lên trời!

Bác rất coi trọng chất lượng công việc. Nói về báo chí hôm qua mà như nói cho báo chí hôm nay, ý tứ của Bác đi trước thời đại. Đang có cuộc tiến hành “quy hoạch báo chí” để tránh chồng chéo, “dẫm vào chân nhau”. Thế mà hơn nửa thế kỷ trước, Bác đã yêu cầu “phải hợp lý hóa” báo chí.

Nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ Nhất về công tác huấn luyện và học tập, Bác nhắc nhở: “Báo chí cũng phải hợp lý hóa. Đừng bày biện ra nhiều thứ. Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi. Không hợp lý hóa lại như thế thì rốt cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà tốn kém một trăm thứ. Đoàn thể cứ co cổ lại chịu tiền để mấy chú làm báo ngồi vẽ voi, vẽ ngựa mà không ai đọc” (Sđd, tập 6, tr 363). “Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi” mang tính phổ quát chung cho mọi ngành nghề, không riêng gì cho báo chí. Lê nin từng nói: “Thà ít mà tốt”. Bác nói kiểu Việt Nam: “Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi”. Hai chữ “hẳn hoi” ấy phải được mọi nhà báo cách mạng (và chung cho tất cả mọi người) ghi nhớ, tâm niệm. Nếu không sẽ sa vào tình trạng “mấy chú làm báo ngồi vẽ voi, vẽ ngựa mà không ai đọc”.

Với Bác Hồ, “hẳn hoi” còn là sự tôn trọng, quý mến và chân thành hết mình với người khác. Tháng 2-1958 sang thăm Ấn Độ, một vị lãnh đạo thay mặt nhân dân nước bạn tặng Bác tấm thảm len khá lớn. Không nhận tượng trưng như người khác, Bác nói: “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy”. Bác ôm rồi vác tấm thảm lên vai, nói: “Tôi vác cả tình cảm nhân dân Ấn Độ trên vai” ( “Ánh mắt Bác Hồ”, Trần Đương, 1999 NXB Thanh niên, tr 104).

Hành động văn hóa ấy bật ra triết lý về sự “hẳn hoi”: quà bạn tặng, mình phải biết trân quý. Cho “hẳn hoi”, nhận cũng phải “hẳn hoi”. Nếu “Cách cho quý hơn của cho”, cũng vậy, “Cách nhận quý hơn của nhận”. Dân gian quá sâu sắc, Bác Hồ thì quá tinh tế. Không còn là vị lãnh tụ hay một vị khách phương xa nữa, mà là những bầu bạn thân thiết, ấm áp, gần gũi nồng ấm, chan hòa.

Từ vựng Hán Việt có từ “chuẩn mực” tương đương về nghĩa, nhưng ít khi Bác dùng. Đấy cũng là tấm gương, cũng là cách nhắc nhở nên “dùng tiếng ta”, một cách “hẳn hoi” của Bác.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.