Lòng yêu nước từ dòng chảy văn học

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi , nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả quân cướp nước và lũ bán nước”.

Giáo sư Trần Văn Giàu cũng khẳng định: “Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của Nhân dân, của dân tộc Việt Nam”, “Truyền thống lớn của ông cha ta là yêu nước, là chủ nghĩa yêu nước”. Tình cảm yêu nước chiếm một vị trí đặc biệt trong đời sống tâm hồn của người Việt không phải dân tộc nào cũng có. Bởi thế, tình yêu đối với đất nước chính là nguồn cảm hứng bất tận, là chủ đề muôn thuở cho những sáng tạo văn học nghệ thuật dân gian và văn học nghệ thuật bác học.

nhung-nguoi-linh-tren-dao-truong-sa-dang-ngay-dem-giu-gin-binh-yen-cho-to-quoc.jpg
Những người lính trên đảo Trường Sa đang ngày đêm giữ gìn bình yên cho Tổ quốc

Trước tiên, lòng yêu nước của ông cha ta được biểu hiện trong mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình. Lòng yêu nước, tình yêu Tổ quốc bao hàm trong đó là tình yêu tổ tiên, gia đình, ông bà, cha mẹ, anh em... Không có tình cảm yêu thương gia đình thì không thể có lòng yêu nhân dân, yêu dân tộc. Trong đại dương bao la, rộng lớn của lòng yêu nước, những tình cảm cá nhân riêng biệt không hề bị tan biến; ngược lại, nó được làm giàu hơn, phong phú và sâu sắc hơn. Ngay trong buổi hồng hoang dựng nước hình ảnh chàng Lang Liêu (trong “Sự tích bánh chưng, bánh dày”) miệt mài làm bánh để thể hiện lòng hiếu nghĩa với cha mẹ.

Hay như Chử Đồng Tử, một chàng trai nghèo khó, trần truồng xấu hổ phải giấu mình trong cát để nhường lại chiếc khố độc nhất cho người cha quá cố. Ân tình của cha, công ơn sinh thành, dưỡng dục lớn lao ấy khiến Chử Đồng Tử không nỡ để cha “lạnh lẽo nơi thế giới bên kia”, chàng đã chôn chiếc khố duy nhất theo cha, không màng đến bản thân. Qua câu chuyện này, người xưa muốn nhắn nhủ một thông điệp nhân văn cao cả đó là đối với cha mẹ thì con cái phải biết quý trọng, quan tâm, biết phụng dưỡng cha mẹ lúc về già, khi cha mẹ ốm đau, bệnh tật; biết thờ phụng khi cha mẹ qua đời. Đó cũng chính là đạo lý làm người mà mỗi chúng ta cần nâng niu và trân trọng.

Không chỉ quan tâm tới tình cảm cha con, truyền thuyết xưa còn chứa chan nghĩa tình vợ chồng. “Sự tích rét nàng Bân” thể hiện tình cảm yêu thương, quan tâm hết mực của một người vợ đối với chồng. Truyện kể: Nàng yêu chồng lắm. Thấy mùa rét đã đến, nàng định tâm may cho chàng một cái áo ngự hàn. Nhưng nàng vụng về quá, khi bắt đầu rét, nàng Bân đã bắt đầu công việc, song cứ loay hoay mãi, tìm được cái nọ thì thiếu cái kia, xe được chỉ thì chưa có kim, đưa chỉ vào dệt thì thoi, suốt lại hỏng. Đến nỗi trời đã sắp sang xuân rồi mà mới chỉ may được đôi cổ tay. Nổi lên trong câu chuyện không phải việc giải thích thời tiết hay ở sự vụng về, chậm chạp của nàng Bân mà là sự chân thành, toàn tâm toàn ý của một người vợ hết lòng với chồng, với gia đình. Điều đó mới thực đáng quý.

Ba anh em trong “Sự tích trầu cau” là một truyền thuyết kết thúc không có hậu khi cả ba nhân vật trong câu chuyện đều phải chết; nhưng thực chất, qua cái chết của ba nhân vật này, người xưa muốn ca ngợi và giáo dục những mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, đó là tình nghĩa vợ chồng thủy chung son sắt, tình nghĩa anh em gắn bó không rời. Cũng chính từ câu chuyện này lý giải cho tục ăn trầu trong ngày cưới và tục thắp hương trầu cau trên bàn thờ tổ tiên của người Việt cổ, người xưa muốn nhắc nhở nhau về tình cảm keo sơn, gắn bó, son sắt yêu thương, cùng chung sống hòa thuận, đùm bọc nhau giữa các thành viên trong gia đình để gia đình yên ấm, hạnh phúc, có như vậy mới tạo điều kiện cho xã hội ổn định, phát triển.

gieo-chu-tren-dao-song-tu-tay.jpg
Gieo chữ trên đảo Song Tử Tây.

Lòng yêu nước được thể trong quan hệ ứng xử với cộng đồng xã hội. Phải nói rằng: Triết lý yêu nước của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm. Cơ sở hình thành triết lý đó là từ hoàn cảnh của đất nước, buổi đầu dựng nước đã là buổi đầu giữ nước. Chống xâm lược bảo vệ độc lập, tự do là điều kiện để dân tộc tồn tại và phát triển. Vì thế, yêu nước trở thành tình cảm thiêng liêng, điều kiện thiết yếu, giá trị hàng đầu chi phối toàn bộ hệ thống giá trị của dân tộc. Ý thức cộng đồng thể hiện ở ý thức về cội nguồn. Người xưa quan niệm “Cây có cội, nước có nguồn”, “Chim có tổ, người có tông”, chính vì thế, từ xưa người Việt đã có ý thức cộng đồng về nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình, có thủy tổ là Kinh Dương Vương, mối tình duyên của Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra các vua Hùng để từ đó dòng giống người Việt phát triển thành quốc gia, dân tộc. Người Việt đã cắt nghĩa về nguồn gốc của dân tộc mình, tất cả người dân Việt Nam đều là con một nhà, cùng chung một tổ tiên, cùng cha mẹ, cả dân tộc là cái bọc chung theo nghĩa đồng bào, cố kết trong tình cốt nhục. Vì thế, trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước sự xâm lược của giặc ngoại xâm thì tình cốt nhục, nghĩa đồng bào là cơ sở chính để tồn tại, phát triển, bảo vệ nòi giống và danh dự của mình. Trong tâm thức người Việt Nam, chữ “đồng bào” (cùng một bọc sinh ra) của truyện “Họ Hồng Bàng” xưa nay như một vũ khí chính trị sắc bén của người Việt Nam để xây dựng nên khối đoàn kết chống lại kẻ thù.Tinh thần đoàn kết cộng đồng, là minh chứng sinh động tiêu biểu cho lòng yêu nước.

Từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta đã đoàn kết lại, đấu tranh quyết liệt và chiến thắng vẻ vang trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược nhằm bảo vệ địa bàn sinh sống của mình. Chắc hẳn từ thuở ấy, người xứ Văn Lang đã sinh ra nhiều tuấn kiệt trên chiến trường, cho nên trên mặt trận văn hóa, nghệ thuật dân gian mới có thể sáng tạo ra được người chiến sĩ hùng tráng như Thánh Gióng. Thánh Gióng tức là Phù Đổng Thiên Vương - tượng trưng một cách tuyệt vời về lòng yêu quê hương và sức mạnh nhân dân đoàn kết chống xâm lược.

Yêu nước còn là nỗ lực chiến đấu với thiên nhiên để bảo vệ sự ổn định cho cuộc sống của nhân dân, xây dựng quê hương mình. Công cuộc đấu tranh với thiên nhiên được biểu hiện sinh động ở sự nghiệp của bố Rồng Lạc Long Quân dẹp các loài yêu quái, chiến thắng Mộc Tinh ở rừng núi đại ngàn, Hồ Tinh chín đuôi ở vùng đồng bằng, Ngư Tinh khổng lồ vùng sông nước ven biển lớn để mở rộng địa bàn sinh tụ. Thú dữ hay ác tính đó là sự kì vĩ hóa thiên nhiên hoang dã chưa được thuần hóa, mà chiến công của Lạc Long Quân chính là chiến công mở đất, khai phá cả vùng đất rộng lớn từ vùng biển đến đồng bằng, rừng núi của cư dân Lạc Việt để định cư, tăng gia sản xuất.

Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, việc giáo dục những giá trị tốt đẹp mà ông cha ta nhắn nhủ như đạo lý, phép tắc ứng xử trong gia đình. Lòng hiếu nghĩa đối với cha mẹ, tình nghĩa anh em, tình cảm vợ chồng, lòng biết ơn đối với những anh hùng dân tộc, sự gắn kết cộng đồng xã hội, tình làng, nghĩa nước... có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Tất cả những giá trị tốt đẹp đó đã ăn sâu vào nếp sống, vào suy nghĩ của mỗi con người trên đất nước Việt Nam, trở thành nền tảng truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước quý báu của nhân dân ta. Lòng yêu nước của dân tộc ta là lớp trầm tích cô đọng hòa vào nền văn hóa dân tộc trở thành một yếu tố cơ bản quyết định chiều sâu của văn hóa dân tộc. Yêu nước trở thành điểm tựa về tư tưởng truyền thống của dân tộc mà trong thời đại ngày nay chúng ta cần tiếp tục kế thừa và phát huy hơn nữa.

Lê Văn Huân

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).