Nghệ sĩ Nguyễn Thị Hồng Ngát - Tài tình chi lắm...

Nguyễn Thị Hồng Ngát là nhà thơ, nhà biên kịch điện ảnh, nhà sản xuất phim, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam và Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, nguyên Giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam, Giám đốc Công ty TNHH HongNgat Film...

Nếu giới thiệu đầy đủ thì còn nữa, nhưng những lúc vui vẻ và thân mật, chị thường “cắt ngang” mà bảo rằng: “Tui chỉ là du Nghệ!”. Vâng, phu quân của chị là Tiến sĩ khoa học Phan Hồng Giang, con trai thứ của nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh, một ông “Đồ Nghệ” nổi tiếng. Và, quả thật, con người Nguyễn Thị Hồng Ngát cũng có nhiều nét rất... Nghệ!

vnca1.jpg
Nhà văn Trần Gia Thái, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội (đứng giữa) và nhà thơ Nguyễn Thị Mai, Trưởng Ban Công tác nhà văn nữ, Hội Nhà văn Việt Nam (bìa phải) chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát ra mắt tự truyện, tháng 8/2026.

Làm thơ, viết văn và biên kịch

Nguyễn Thị Hồng Ngát sinh ra và lớn lên ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang của tỉnh Hưng Yên trước đây, trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Năm 15 tuổi, cô bé Hồng Ngát đã trốn theo người bác họ lên Hà Nội thi tuyển vào Khoa Diễn viên của Trường Nghệ thuật sân khấu, mục đích chính là “bớt cho gia đình một miệng ăn”. Trở thành cô đào chèo trẻ tuổi, 2 lần được tham gia “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chị tích lũy vốn sống chiến trường rồi cầm bút viết kịch và làm thơ. Năm 1973, chị đoạt giải cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ. Từ đó đến nay, chị vẫn bền bỉ với thơ và là một tác giả ấn tượng của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ.

Trong giai đoạn đầu, thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát hòa trong âm hưởng chung của bản hợp xướng hào sảng, hồn nhiên, lạc quan, lãng mạn cách mạng. Có chăng, nét riêng thì đấy là một giọng thơ vừa nữ tính vừa quyết liệt. Hai bài thơ được giải Báo Văn nghệ năm 1973 của chị đều được viết trực tiếp ở chiến trường: “Tiếng hát em bay đến từng góc rừng anh ở/ Ríu rít quanh anh như bầy chim nhỏ/ Tay cầm choòng em hát giữa đường vui/ Đứng trên thành xe cũng hát trọn dăm bài/ Khúc hát quê hương bay theo vòng bánh...” (Theo anh vào Trường Sơn - 1968). Chắc chắn, phải là lính Trường Sơn mới có cái kỹ năng đặc biệt thế này: “Bước đi ở giữa Trường Sơn/ Theo dấu gậy, đoán người quen cùng làng...” (Gửi người bạn cùng quê - 1973).

Từ Trường Sơn trở về Hà Nội, năm 1981 Nguyễn Thị Hồng Ngát du học tại Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Liên Xô (VGIK), một trong những trường đại học nghệ thuật hàng đầu thế giới. Từ đây hồn thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát được dịp tung thả ở cấp độ cao hơn. Đây là giai đoạn chị đã khá trưởng thành về tuổi đời, tay nghề, tư duy, cảm xúc... và được sống trong một môi trường văn hóa - nghệ thuật mới, nên thơ của chị đã có một bước chuyển biến đáng kể về chất.

Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát và nhà thơ Hữu Thỉnh tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ X, năm 2020.

Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát và nhà thơ Hữu Thỉnh tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ X, năm 2020.

Tình yêu vẫn thường trực và chủ đạo trong cảm xúc sáng tạo của chị, nhưng luôn hòa quyện với ý thức công dân: “Tổ quốc ở bên em từng lá cây, ngọn cỏ/ Và anh yêu là ngọn gió sớm chiều.../ Nỗi nhớ về đất nước xa xôi/ Nhớ về anh chẳng thể nào nguôi được/ Trong miếng cơm ăn, trong từng hớp nước...”. Cũng từ đây, rất nhiều thi tứ, thi ảnh của chị đã vượt ra khỏi biên giới của Tổ quốc thân yêu. Đồng thời, thơ chị cũng “hướng nội” sâu sắc hơn để có những bài thơ, những câu được bạn đọc ghi nhớ, như trong bài “Nhẹ dạ” viết năm 1989:

Người ta biết mình cần ổn định

Nên đã đánh lừa bằng sự ổn định

Người ta biết mình cô đơn

Nên đã đánh lừa bằng sự cô đơn.

Sinh thời, khi đọc mấy câu thơ trên, nhà thơ hàng đầu của thơ chống Mỹ là Phạm Tiến Duật đã viết: “Các nhà thơ cách tân của quốc tế cũng chỉ viết đến thế là cùng!”. Khen đến mức ấy thì quả là hơi hào phóng. Nhưng, quả tình, đó là những câu thơ rất mới, rất hiện đại mà lại dễ cảm, dễ hiểu. Cũng như 2 câu lục bát này của chị: “Ngước nhìn thăm thẳm trời xanh/ Mỗi lần khát, tự biến thành giọt mưa...”.

Nguyễn Thị Hồng Ngát đã xuất bản 8 tập thơ riêng, trong đó có những tập thơ trữ tình đằm thắm được bạn đọc yêu thích, như: “Nhớ và Khát”, “Ngôi nhà sau cơn bão”, “Bài ca số phận”, “Biển đêm”, “Cỏ thơm - Mây trắng” v.v... Bài thơ “Biển đêm” của chị được nhạc sĩ Lê Vinh phổ nhạc, qua tiếng hát Ngọc Tân, đã trở thành ca khúc trữ tình vượt thời gian. Ngoài thơ, chị còn viết văn xuôi và phê bình sân khấu - điện ảnh; trong đó, có 1 tập tiểu thuyết, 1 tuyển tập truyện ngắn và 1 tập truyện vừa viết cho thiếu nhi...

Sau khi tốt nghiệp Đại học VGIK trở về nước và công tác trong ngành điện ảnh, bên cạnh thơ và văn xuôi, Nguyễn Thị Hồng Ngát trở thành một trong những nhà biên kịch điện ảnh “đắt sô”. Hàng loạt kịch bản phim truyện điện ảnh của chị đã được trao những giải thưởng cao trong các kỳ Liên hoan phim Quốc gia, Giải thưởng thường niên của Hội Điện ảnh Việt Nam, Giải thưởng của Ban Tuyên giáo Trung ương, Giải thưởng Bộ Quốc phòng... như: “Canh bạc”, “Cha tôi và hai người đàn bà”, “Một thời đã sống”, “Ký ức Điện Biên”, “Nhìn ra biển cả”, “Hồng Hà nữ sĩ”... Nguyễn Thị Hồng Ngát còn là tác giả của nhiều kịch bản phim tài liệu, phim video, kịch bản sân khấu... Thể loại nào chị cũng “tăng trưởng 2 con số” và nhận được những giải thưởng cao quý. Năm 2012, chị được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Năm 2016, chị được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất...

Chân thành và bao dung

Sinh năm 1950, cuộc đời Nguyễn Thị Hồng Ngát mang đầy đủ những “số kiếp” mà dân gian đúc kết cho những người đàn bà tuổi Dần. Chị đã trải qua những đổ vỡ trong đời sống riêng tư, những năm tháng "hai lần sống một mình", gánh nặng nuôi con và áp lực của công việc quản lý nghệ thuật trong giai đoạn điện ảnh nước nhà chuyển mình Đổi mới. Tuy nhiên, như nhà văn Trần Thị Trường nhận xét, cái "dữ" của tuổi Dần ở Nguyễn Thị Hồng Ngát không bùng nổ ồn ào mà chuyển hóa thành “nội lực sáng tạo, sự kiên nhẫn và tính tự lập cao độ”. Chị không gục ngã trước bi kịch, không oán trách số phận hay quy kết ai. Chị biến cô đơn thành chất liệu thơ ca, biến trải nghiệm đắng cay thành chiều sâu tâm lý cho các nhân vật trên màn ảnh...

Và, những thăng trầm, vui buồn, sướng khổ trong cuộc sống và trong sự nghiệp của Nguyễn Thị Hồng Ngát được tái hiện khá chân thực trong cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng”, chị vừa xuất bản sau tuổi 75. Tâm lý thường tình của nhiều người khi cầm bút kể về đời mình vẫn luôn là "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại", nhưng Nguyễn Thị Hồng Ngát đã dũng cảm phơi mở trần trụi mọi khía cạnh của số phận, từ những chuyện "tế nhị" đến cả những điều dư luận từng cho là "tai tiếng".

Chị không né tránh những lời đồn thổi hay sự dị nghị của dư luận dành cho một người phụ nữ tài sắc, đa đoan. Chị thật thà kể về những lần đổ vỡ hôn nhân, về những tháng năm "hai lần sống một mình" vừa làm cha, vừa làm mẹ chèo chống nuôi con giữa bộn bề thiếu thốn và cô đơn. Chị viết về những xao xuyến tình cảm, những sai lầm, những khao khát thầm kín hay cả những góc khuất "nhạy cảm" trong mối quan hệ cá nhân bằng một thái độ điềm tĩnh, thành thật. Chính sự chân thành không chút giấu giếm ấy là sợi dây kỳ diệu nối liền trái tim tác giả với bạn đọc, khiến người ta không chỉ thấu cảm mà còn thêm tin yêu và khâm phục chị.

Để "phô" ra được những vết xước ấy cần một bản lĩnh phi thường, bởi chỉ những ai thực sự trong sạch trong nhân cách, tự do trong tâm trí và thanh thản với lương tâm mới đủ dũng khí đối diện với chính mình mà không cần đến bất kỳ tấm rèm che đậy nào. Cùng đó là cái cách chị ứng xử với những người từng ghen ghét, tranh giành hay gieo tai tiếng cho chị, đã thêm một lời khẳng định bản lĩnh văn hóa của Nguyễn Thị Hồng Ngát.

Thói thường, một người phụ nữ tài sắc, lại nắm giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốt trong ngành, dễ trở thành đối tượng của những đố kỵ, gièm pha. Tuy nhiên, đọc “Đi theo một quầng sáng”, tuyệt nhiên không thấy bất kỳ lời cay nghiệt, lên án hay chì chiết cá nhân nào. Chị coi đó chỉ là những "khúc quanh" tất yếu của hoàn cảnh và thời cuộc. Sự thấu cảm ấy còn bắt nguồn từ nền tảng tâm linh Phật tính của một đứa trẻ "cầu tự". Ở độ tuổi xế chiều, Nguyễn Thị Hồng Ngát nhìn mọi duyên nợ trên đời bằng thái độ "tùy duyên" và buông bỏ. Bằng việc hóa giải những hiềm tị bằng sự thấu cảm, chị không chỉ giải thoát cho người khác mà còn giải thoát cho chính tâm hồn mình khỏi gánh nặng của hận thù.

Và, đó cũng là một phẩm chất rất... “du Nghệ”!

MAI NAM THẮNG

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.