Nước Mỹ đã được cảnh báo
Tròn 25 năm sau vụ tấn công khủng bố, theo chỉ thị mới đây của Nhà Trắng, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) ngày 11/9/2026 tiếp tục công bố loạt tài liệu tình báo từng được gửi tới các đời Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush, tập trung vào mối đe dọa từ tổ chức khủng bố al-Qaeda và thủ lĩnh Osama bin Laden. Theo thông báo của CIA, cơ quan này đã giải mật 71 bản tin tình báo hằng ngày của tổng thống (PDB), trong đó có hơn 100 trang phân tích được công khai lần đầu. Đây là đợt công bố lớn nhất từ trước đến nay đối với PDB, một trong những loại tài liệu tình báo nhạy cảm nhất, thường chỉ được cung cấp cho Tổng thống Mỹ.
New York Times cho hay, CIA có thông lệ công bố các PDB sau ít nhất 40 năm để tránh làm lộ nguồn tin và giảm thiểu nguy cơ xảy ra căng thẳng ngoại giao. Dù những tài liệu vừa được giải mật không đưa ra bức tranh hoàn toàn mới về những gì tình báo Mỹ biết trước ngày 11/9, chúng bổ sung thêm những chi tiết về cách các cảnh báo được chuyển tới lãnh đạo cấp cao của Mỹ trong những năm trước thảm họa.
Theo tài liệu, cảnh báo về al-Qaeda xuất hiện liên tục từ nhiều năm trước. Tình báo Mỹ từng ghi nhận khả năng tổ chức này tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở của Mỹ ở nước ngoài, bắt cóc công dân Mỹ, cướp máy bay, sử dụng vũ khí hóa học và tìm cách tiếp cận vật liệu có thể được sử dụng để chế tạo vũ khí hạt nhân.
Báo Independent cho hay, bản tin gửi Tổng thống Mỹ ngày 10/9/1998 thậm chí cảnh báo một nhóm có liên hệ với bin Laden “có thể lái máy bay chở đầy chất nổ lao vào một thành phố Mỹ”. “Lựa chọn ưa thích của bin Laden là tấn công nước Mỹ ngay trên lãnh thổ của họ, tại Washington”, bản tin có đoạn. Đến ngày 6/8/2001, một PDB được trình Tổng thống George W. Bush mang tiêu đề liên quan đến quyết tâm của bin Laden trong việc tấn công nước Mỹ. Nội dung tài liệu ghi nhận al-Qaeda tiếp tục chuẩn bị hoạt động chống Mỹ và các thành viên của tổ chức này từng cư trú hoặc di chuyển tới Mỹ trong nhiều năm. Tài liệu cũng đề cập những dấu hiệu đáng ngờ liên quan khả năng chuẩn bị cướp máy bay hoặc tiến hành các hình thức tấn công khác.
Những cảnh báo ấy xuất hiện trong bối cảnh các cơ quan tình báo và thực thi pháp luật Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc điều tra liên quan đến bin Laden. Tuy nhiên, thông tin thu được phần lớn rời rạc. Một số nguồn tin đề cập khả năng cướp máy bay nhưng chưa được xác minh; những dấu hiệu đáng ngờ khác cũng chưa thể xác định rõ mối liên hệ với al-Qaeda. Theo các nhà phân tích CIA, nhiều thông tin về mối đe dọa xuất hiện trong các báo cáo rồi lại biến mất, trong khi việc theo dõi trọn vẹn diễn biến của âm mưu là rất khó.
Một phần thách thức nằm ở việc xác định khi nào và bằng cách nào những cảnh báo cần được đưa lên cấp tổng thống. Một quan chức cấp cao CIA nói với New York Times rằng, khi số lượng báo cáo về al-Qaeda tăng lên, cơ quan này cũng phải tính đến nguy cơ “mệt mỏi do cảnh báo quá nhiều”. Một nhà phân tích chống khủng bố cấp cao của CIA cũng cho biết hoạt động thu thập thông tin từ các nguồn thân cận với al-Qaeda trước vụ tấn công “không mấy hiệu quả”. Một hạn chế khác là trọng tâm của nhiều cảnh báo vẫn hướng ra bên ngoài nước Mỹ. Các cơ quan an ninh đã quen với việc đánh giá nguy cơ đối với các cơ sở và công dân Mỹ ở nước ngoài, trong khi việc bảo vệ lãnh thổ Mỹ trước cuộc tấn công khủng bố quy mô lớn chưa được đặt ở vị trí tương xứng.
Cuối cùng, những thông tin và cảnh báo đó đã không được kết nối thành một bức tranh đủ rõ để ngăn chặn thảm họa. Sáng 11/9/2001, 19 tên không tặc khống chế 4 máy bay chở khách; 2 chiếc máy bay lao vào 2 tòa tháp của Trung tâm Thương mại thế giới (WTC) tại New York; một chiếc khác đâm vào Lầu Năm Góc; chiếc còn lại, United Airlines Flight 93, rơi xuống cánh đồng ở Pennsylvania.
Gần 3.000 người thiệt mạng trong vụ tấn công, nhiều người khác gặp các vấn đề về sức khỏe trong những năm sau đó. Những thất bại về tình báo được Ủy ban 11/9 xác định, trong đó có việc chia sẻ thông tin còn hạn chế giữa CIA và FBI, sau đó dẫn tới cuộc cải tổ sâu rộng cấu trúc an ninh quốc gia của chính phủ liên bang. Bộ An ninh Nội địa được thành lập, tập hợp nhiều cơ quan thực thi pháp luật khác nhau; Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia cũng ra đời với nhiệm vụ cải thiện sự phối hợp giữa FBI, CIA và các cơ quan tình báo khác, đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn phân tích.
25 năm sau, tổn thương còn đó
Nếu những tài liệu tình báo mới công bố giúp nhìn lại những gì nước Mỹ đã biết trước ngày 11/9, thì 170.000 trang hồ sơ vừa được công bố tại New York lại đưa câu chuyện về những năm tháng sau thảm họa. Đó là câu chuyện về Ground Zero, nơi từng tọa lạc 2 tòa tháp WTC, nơi lực lượng cứu hộ, người dân và những người làm việc tại khu vực này phải đối mặt với bụi và các chất độc hại sau khi các tòa tháp sụp đổ.
Theo CNN, bộ hồ sơ gồm các bản ghi nhớ nội bộ, kết quả kiểm tra môi trường và tài liệu về quá trình ứng phó với các nguy cơ tại khu vực WTC. Các tài liệu cho thấy, trong tháng 10 và 11/2001, một số cuộc kiểm tra vẫn phát hiện nồng độ cao của các chất độc hại, trong đó có amiăng và một số hóa chất nguy hiểm. Những cảnh báo về chất lượng không khí đã xuất hiện trong nội bộ nhà chức trách, trong khi công chúng nhận được những thông điệp trấn an và chưa được bảo vệ tương xứng.
Một bản ghi nhớ của Kelly McKinney, khi đó là Phó Ủy viên Y tế New York, ngày 6/10/2001 cảnh báo chất lượng không khí liên quan đến amiăng tại một số địa điểm “chưa phù hợp để tái sử dụng”. Theo CNN, bản ghi nhớ được lập cùng ngày cựu Thị trưởng Rudolph Giuliani công khai tuyên bố rằng không khí an toàn. Ông Giuliani bác bỏ cáo buộc chính quyền che giấu nguy cơ.
Cựu Giám đốc Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) Christie Whitman cho rằng, những phát biểu của bà khi đó dựa trên phân tích của các nhà khoa học EPA. Theo bà, EPA đã công khai dữ liệu và thường xuyên cập nhật thông tin, đồng thời phân biệt giữa điều kiện tại Ground Zero với chất lượng không khí ở những khu vực khác của thành phố.
Tuy nhiên, những cảnh báo khác vẫn tiếp tục xuất hiện. Hạ nghị sĩ Jerry Nadler, đại diện New York, từng gửi bản ghi nhớ tới chính quyền thành phố vào tháng 2/2002, bày tỏ quan ngại về việc EPA không thực hiện đầy đủ việc giám sát chất lượng không khí trong các tòa nhà quanh Ground Zero.
Nhà hóa học EPA Cate Jenkins, người sau này đứng ra tố cáo vụ việc, công khai chỉ trích phương pháp kiểm tra và cách cơ quan này đánh giá nguy cơ từ bụi tại Ground Zero. Trong bản ghi nhớ tháng 12/2001, bà cho rằng một số hướng dẫn làm sạch và phương pháp kiểm tra không phản ánh đầy đủ nguy cơ thực tế, đồng thời đặt vấn đề với những tuyên bố công khai về chất lượng không khí.
Những ảnh hưởng về sức khỏe không dừng lại cùng quá trình dọn dẹp đống đổ nát. Những người chịu ảnh hưởng không chỉ là lực lượng cứu hộ; cư dân sống gần Ground Zero, trong đó có cộng đồng Chinatown, cũng phải đối mặt với bụi và các vấn đề về hô hấp.
Vẫn theo CNN, việc công bố 170.000 trang tài liệu tại New York là kết quả của những yêu cầu kéo dài nhiều năm từ các tổ chức đại diện cho nạn nhân, những người sống sót và lực lượng cứu hộ. Tổ chức 9/11 Health Watch đã khởi kiện thành phố nhằm yêu cầu công khai hồ sơ, hướng tới việc thúc đẩy hỗ trợ liên bang và nghiên cứu sâu hơn về những ảnh hưởng sức khỏe. Việc công bố tài liệu nằm trong thỏa thuận giải quyết các vụ kiện đó.
Bob Eustace, Chủ tịch Hiệp hội Lính cứu hỏa mặc đồng phục New York, đặt câu hỏi liệu những người làm nhiệm vụ có thể đã làm gì khác nếu được cảnh báo sớm hơn, trong đó có khả năng phát hiện và điều trị bệnh sớm hơn. Jim Brosi, Chủ tịch Hiệp hội Sĩ quan cứu hỏa mặc đồng phục, cho rằng những tài liệu được công bố cho thấy thành phố đã đặt ưu tiên vào việc khôi phục hoạt động kinh tế của khu vực phía Nam Manhattan trong khi chưa bảo đảm đầy đủ sức khỏe và an toàn của lực lượng cứu nạn và người dân.
Trong khi đó, đương kim Thị trưởng New York Zohran Mamdani cho rằng, việc công bố hồ sơ sẽ giúp làm rõ chính quyền thành phố từng biết gì về nguy cơ từ đám mây bụi độc hại tại Ground Zero. Chính quyền thành phố cho biết đây mới chỉ là đợt đầu, các hồ sơ khác sẽ tiếp tục được công khai những tháng tới, có thể sẽ còn hé lộ thêm những câu chuyện mới phía sau một sự kiện cũ.