Yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới
Những vấn đề đặt ra đối với xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp. Tội phạm truyền thống tồn tại cùng tội phạm công nghệ cao. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, thiếu nước, mất an ninh lương thực cũng ngày càng tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân. Quá trình đô thị hóa, già hóa dân số, chuyển dịch cơ cấu lao động và phân hóa xã hội cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với quản trị quốc gia. Thực tiễn đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy và phương thức quản trị xã hội.
Năm yêu cầu "kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển" không tồn tại tách rời mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Mỗi yêu cầu vừa có nội hàm riêng, vừa tác động và bổ trợ cho các yêu cầu còn lại.
Xã hội kỷ cương trước hết là xã hội thượng tôn pháp luật. Kỷ cương không chỉ được tạo dựng bằng chế tài mà phải bắt đầu từ ý thức tự giác, văn hóa pháp luật và trách nhiệm công dân. Khi pháp luật được tôn trọng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ, trách nhiệm của cơ quan công quyền được xác định rõ thì xã hội có nền tảng ổn định và niềm tin được củng cố. Kỷ cương phải được xây dựng từ cơ sở, từ những hành vi rất cụ thể như chấp hành pháp luật giao thông, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy và tôn trọng quyền của người khác.
Xã hội an toàn là xã hội trong đó con người được bảo vệ trước những nguy cơ cả trong đời sống thực và trên không gian mạng. An toàn không chỉ là phòng, chống tội phạm, ma túy, cháy nổ, tai nạn giao thông mà còn bao gồm an toàn môi trường, an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng. Yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và cảnh báo sớm. Mỗi gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp và khu dân cư phải trở thành một không gian an toàn.
Xã hội văn minh không chỉ được nhận diện bằng những đô thị hiện đại, trình độ công nghệ cao mà trước hết thể hiện ở văn hóa và hành vi của con người. Đó là ý thức tôn trọng pháp luật, văn hóa ứng xử, văn hóa giao thông, trách nhiệm với cộng đồng và ý thức bảo vệ môi trường. Ngày nay, văn minh còn phải được thể hiện trên không gian mạng: sử dụng công nghệ có trách nhiệm, biết phân biệt thông tin đúng - sai, tôn trọng quyền riêng tư và không tiếp tay lan truyền thông tin độc hại. Văn minh xã hội, vì vậy, gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới.
Xã hội hài hòa là xã hội bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư; giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Hài hòa cũng có nghĩa là quan tâm đúng mức đến những nhóm yếu thế, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu.
Hài hòa còn là sự cân bằng giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa con người với thiên nhiên. Trong bối cảnh đó, mỗi địa phương cần có cách tiếp cận phù hợp với những vấn đề của mình. Hà Nội phải giải quyết bài toán quản trị đô thị, giao thông, dân cư, môi trường và an ninh mạng. Đồng bằng sông Cửu Long phải đặt an ninh lương thực trong mối quan hệ chặt chẽ với an ninh nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu...
Xã hội phát triển phải hướng tới nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống. Tăng trưởng kinh tế phải tạo ra việc làm, thu nhập và nguồn lực cho phát triển; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực mới; chuyển đổi số phải thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp. Thước đo cuối cùng của phát triển không chỉ là những con số kinh tế mà còn là mức độ hạnh phúc, an toàn, cơ hội và niềm tin của người dân.
5 yêu cầu đó có mối quan hệ hữu cơ. Kỷ cương tạo nền tảng cho an toàn; an toàn tạo môi trường cho phát triển; phát triển tạo nguồn lực cho an sinh; an sinh góp phần củng cố sự hài hòa và đồng thuận; còn văn minh tạo nên chất lượng và sức bền của xã hội. Không thể xây dựng xã hội phát triển nếu thiếu kỷ cương, cũng không thể có một xã hội văn minh nếu thiếu an toàn, công bằng và trách nhiệm.
Nhiệm vụ của toàn dân và cả hệ thống chính trị
Nghị quyết 18-NQ/TW xác định 9 nhiệm vụ, giải pháp lớn để xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy và hành động phải trở thành điểm xuất phát của quá trình triển khai nghị quyết. Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội là yêu cầu căn bản để xã hội vận hành ổn định. Cần tạo chuyển biến từ "quản lý bằng mệnh lệnh" sang hình thành ý thức tự giác chấp hành pháp luật, đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm công vụ và trách nhiệm xã hội. Cán bộ, đảng viên và các cơ quan trong hệ thống chính trị phải gương mẫu, qua đó lan tỏa ý thức tôn trọng pháp luật trong toàn xã hội.
Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới trở thành chủ thể, nguồn lực và động lực của xã hội là nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài. Con người vừa là mục tiêu của phát triển, vừa là lực lượng trực tiếp tạo ra sự phát triển. Vì vậy, phải chú trọng giáo dục, đào tạo, đạo đức, kỹ năng, ý thức công dân, năng lực số, sức khỏe và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thời đại.
Xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới nhằm tạo nền tảng tinh thần cho xã hội. Kỷ cương pháp luật cần đi cùng đạo đức, văn hóa và trách nhiệm.
Đột phá xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở đòi hỏi đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức quản lý của Nhà nước. Quản trị phải hướng mạnh về cơ sở, lấy người dân làm trung tâm, dựa nhiều hơn vào dữ liệu, công nghệ và năng lực dự báo. Bộ máy nhà nước phải tinh gọn, rõ trách nhiệm, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và gần dân hơn. Các vấn đề phát sinh cần được phát hiện, xử lý ngay từ cơ sở, tránh để tích tụ thành điểm nóng.
Đột phá về bảo đảm an ninh con người toàn diện và xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh phải được đặt ở vị trí trung tâm của quản trị xã hội. Phòng, chống tội phạm, ma túy, bạo lực, cháy nổ, tai nạn, bảo vệ trẻ em, bảo vệ môi trường, an ninh mạng, an toàn dữ liệu và ứng phó với các nguy cơ phi truyền thống phải được triển khai đồng bộ. Phòng ngừa phải đi trước xử lý; cảnh báo sớm phải đi cùng phản ứng nhanh; bảo đảm an ninh phải gắn với bảo đảm an sinh.
Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân là yêu cầu xuyên suốt. Tăng trưởng phải tạo ra việc làm và thu nhập, đồng thời tạo nguồn lực cho giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Tăng cường hội nhập quốc tế và huy động nguồn lực cho xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là yêu cầu phù hợp với vị thế và điều kiện mới của đất nước. Việt Nam cần chủ động tiếp thu kinh nghiệm quản trị xã hội, khoa học, công nghệ, nguồn lực tài chính và tri thức quốc tế, đồng thời phát huy mạnh mẽ nguồn lực trong nước. Hội nhập phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của xã hội.
Nghị quyết xác định 3 nhóm trọng tâm gồm: Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa Đảng, văn hóa công vụ và kỷ cương xã hội; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.
Điều đặc biệt là 9 nhiệm vụ, giải pháp phải được triển khai trong một cơ chế thống nhất về trách nhiệm. Trong xã hội hiện đại, không một cơ quan hay lực lượng riêng lẻ nào có thể bảo đảm an ninh và an toàn cho cộng đồng. Một xã hội kỷ cương cần sự tự giác của người dân; một xã hội an toàn cần sự phối hợp của cả cộng đồng; một xã hội văn minh cần những chuẩn mực được thực hành hằng ngày; một xã hội hài hòa cần sự đồng thuận; còn một xã hội phát triển cần sự chung sức của Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân. Khi sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quản lý nhà nước được đổi mới, vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc được phát huy, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động thực chất và Nhân dân thực sự trở thành chủ thể, sức mạnh tổng hợp của xã hội sẽ được khơi dậy.
Đó cũng là con đường để biến những mục tiêu lớn của Nghị quyết 18-NQ/TW thành những chuyển biến cụ thể trong từng địa phương, từng cộng đồng, từng gia đình và từng người dân.