1.Ngày 19/8, Văn phòng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu tuyên bố: Syria đang trên bờ vực vi phạm "hiện trạng đã được thỏa thuận với Israel về các vấn đề an ninh" bằng cách cho phép quân đội Thổ Nhĩ Kỳ triển khai tại căn cứ không quân, đồng thời nói thêm rằng, việc triển khai như vậy sẽ đe dọa an ninh của Israel và Tel Aviv "sẽ không dung thứ cho điều đó", theo Reuters.
Đáp lại, Phủ Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cho biết những "cáo buộc" từ Văn phòng Thủ tướng Israel xuất phát từ ý định theo đuổi "các chính sách bành trướng và gây bất ổn" trước thềm cuộc bầu cử ở Israel, đồng thời nói thêm rằng, hòa bình khu vực lâu dài chỉ có thể đạt được nếu Israel tôn trọng luật pháp quốc tế và từ bỏ "các chính sách hung hăng và cưỡng chế".
"Những cáo buộc không thể chấp nhận được do Văn phòng Thủ tướng Israel đưa ra nhằm mục đích hợp pháp hóa các cuộc không kích bất hợp pháp của Israel nhắm vào chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Syria", tuyên bố trên X cho biết, nhưng chưa đề cập cụ thể bất kỳ kế hoạch triển khai tiềm năng nào. Ankara không lùi bước, nhưng dường như cũng chưa muốn vượt qua các ranh giới ngoại giao: "Thổ Nhĩ Kỳ sẽ kiên quyết tiếp tục hợp tác với Chính phủ Syria trên cơ sở hợp pháp để thiết lập hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở Syria, và sẽ không bao giờ cho phép tình trạng bất ổn ở Syria xảy ra".
Trong khi đó, Đặc phái viên Mỹ về Syria kiêm nhiệm Đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ Tom Barrack cho biết, Washington đang tích cực làm trung gian để xây dựng kênh liên lạc hiệu quả hơn giữa 3 nước. Ông bình luận: Thổ Nhĩ Kỳ không được thông báo trước về các cuộc tấn công của Israel. Vì vậy, Ankara đã quan sát thấy máy bay Israel di chuyển về phía Bắc, hướng tới khu vực gần lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Trong tình huống đó, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hoàn toàn có thể cho rằng họ cần chuẩn bị phản ứng quân sự. "May mắn là những người có cách tiếp cận thận trọng đã ngăn tình hình tiếp tục xấu đi".
Các động thái này đều được đưa ra sau khi Israel tiến hành không kích một căn cứ không quân ở Tây Bắc Syria, gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, mang tên Abu al-Duhur.
2.Căn cứ Abu al-Duhur nằm ở vị trí chiến lược giữa 3 tỉnh Idlib, Hama và Aleppo của Syria. Theo các nguồn tin khu vực, một phái đoàn quân sự Thổ Nhĩ Kỳ gần đây đã tới căn cứ để đánh giá quá trình khôi phục đường băng. Israel đặc biệt lo ngại động thái nâng cấp cơ sở này có thể đi kèm với việc triển khai các hệ thống phòng không và thiết bị bay không người lái tiên tiến, qua đó hạn chế khả năng hoạt động của không quân Israel trên không phận Syria.
Văn phòng Thủ tướng Israel cũng đã xác nhận rằng, không quân Israel đã thực hiện cuộc không kích, bởi Damascus chuẩn bị cho phép lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ triển khai tại căn cứ Abu al-Duhur, qua đó vi phạm thỏa thuận "duy trì hiện trạng trong các vấn đề an ninh" giữa Israel và Syria. Không chỉ vậy, Tel Aviv đã nhiều lần cảnh báo Damascus rằng sự hiện diện quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ tại đây sẽ gây ra mối đe dọa đối với an ninh Israel. Tuy nhiên, phía Ankara đã bác bỏ thông tin về kế hoạch thiết lập hiện diện quân sự tại Abu al-Duhur.
Những diễn biến mới nhất này, dù sao, cũng chỉ là sự nối dài thêm chuỗi hiềm khích đã hiện diện từ rất lâu, giữa Israel và Thổ Nhĩ Kỳ, cho dù cả hai đều là những đồng minh thân thiết của nước Mỹ tại khu vực Trung Đông.
Hiện tại, có thể thấy, sau sự sụp đổ của gia tộc Assad - đồng minh thân cận nhất của nước Nga tại khu vực trong quá khứ, Syria dần trở thành điểm va chạm lợi ích ngày càng rõ giữa Israel với Thổ Nhĩ Kỳ.
Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia sở hữu quân đội lớn thứ hai trong NATO và nổi lên như một trong những đồng minh chính của Tổng thống Syria đương nhiệm Ahmed al-Sharaa (Ankara đã huấn luyện quân đội Syria, giúp nước này xây dựng lại các thể chế nhà nước và cơ sở hạ tầng, đồng thời cung cấp hỗ trợ quân sự và ngoại giao), cáo buộc Israel đang cố gắng gây bất ổn cho Syria, cũng như làm suy yếu chính quyền mới của nước này, đồng thời liên tục kêu gọi áp lực quốc tế và các biện pháp buộc Israel tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Syria.
Ngược lại, Israel lại muốn duy trì ưu thế trên không và quyền tự do hành động quân sự tại nước láng giềng, đặc biệt là đối với những tuyến đường không có ý nghĩa trong các chiến dịch tấn công Iran. Do đó, nguy cơ hai bên đối đầu quân sự trực tiếp đang khiến Mỹ phải đẩy nhanh nỗ lực thiết lập cơ chế tránh xung đột - điều đã manh nha xuất hiện vào năm ngoái. Như nhận xét của ông Tom Barrack, cuộc tấn công của Israel vào căn cứ Abu al-Duhur phản ánh quan điểm của Israel, dù đúng hay sai, rằng Thổ Nhĩ Kỳ có thể sẽ gia tăng sự hiện diện tại căn cứ này trong tương lai gần. "Điều đó cho thấy sự cần thiết của một cơ chế giảm xung đột có sự tham gia của cả Israel, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ", nhằm ngăn ngừa những "hiểu lầm" tương tự có thể xảy đến.
3.Dĩ nhiên, nước Mỹ không bao giờ muốn bị đẩy vào tình thế phải chứng kiến xung đột bùng nổ giữa 2 đồng minh của mình. Song, tình thế Syria hiện tại lại đang tạo nên những điều kiện cực kỳ thuận lợi để kịch bản đó có thể trở thành hiện thực, với những khoảng trống quyền lực cũng như khả năng kiểm soát chưa thể được lấp đầy, kể từ khi vị thế của mối liên hệ Assad - Nga bị triệt tiêu.
Hiện tại, Israel và Thổ Nhĩ Kỳ đều có lợi ích an ninh trực tiếp tại Syria, trong khi chính quyền mới ở Damascus đang tìm cách củng cố quyền kiểm soát đất nước (một cách đúng nghĩa) sau nhiều năm nội chiến. Bên cạnh đó, ngay cả dưới thời cựu Tổng thống Syria Bashar Al Assad, Israel luôn chẳng hề ngại đưa quân vượt qua biên giới, tiến hành các hoạt động quân sự (nhằm trấn áp các nhóm vũ trang Hồi giáo đối đầu với họ, hoặc ngăn cản đường tiếp tế vũ khí từ Iran cho Hezbollah ở Lebanon), bất chấp mọi lời phản đối hay cáo buộc xâm phạm chủ quyền Syria. Vậy nên, Tel Aviv lúc này lại càng không muốn một "kình địch" trong khu vực như Thổ Nhĩ Kỳ đứng chân vững chắc trên địa bàn chiến lược đầy tính nhạy cảm này.
Theo các diễn biến gần nhất, Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ đang hết sức nỗ lực để làm dịu lại tình hình, đồng thời thiết lập các cơ chế đối thoại, ngăn ngừa đối đầu quân sự trực tiếp bùng phát. Vấn đề là, để làm được điều đó, Washington cần phải xây dựng được một cấu trúc trật tự khu vực mà họ dẫn dắt mạnh mẽ hơn, có khả năng xử lý các tình huống cấp bách một cách hiệu quả hơn. Điều này, hiển nhiên, đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn. Song, đây lại chính là một điểm nghẽn từ nội tại nước Mỹ, khi các cuộc giao tranh Mỹ - Iran "ngốn" những khoản ngân sách khổng lồ.
Không chỉ vậy, để thuyết phục được cả Israel lẫn Thổ Nhĩ Kỳ, Washington cần xây dựng được một cơ chế hợp tác mới, với động lực cốt lõi là lợi ích (cả hữu hình lẫn vô hình) để khiến cả hai phía "xiêu lòng", chưa kể tới lập trường của chính quyền Syria đương nhiệm. Đó phải là đáp ứng về nhu cầu an ninh và cả những kế hoạch "làm ăn" mang lại lợi ích kinh tế thiết thực.
Đây thực sự là một phương trình không dễ cân bằng, nhất là trong bối cảnh hiện tại. Dù sao, như ông Tom Barrack phân tích, "đầu tư vào các cơ chế liên lạc và giảm xung đột sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với việc các bên sử dụng sức mạnh quân sự để truyền tải thông điệp". Theo cách diễn đạt của ông, việc dùng các biện pháp quân sự như một hình thức "liên lạc bằng động năng" có thể khiến chi phí lên tới hàng trăm triệu USD, chưa kể nguy cơ gây thương vong và làm bùng phát một cuộc xung đột rộng lớn hơn.
Xét cho cùng, khi lửa xung đột bùng lên giữa hai cường quốc hàng đầu khu vực, sẽ chẳng có ai được lợi lộc gì.