Ký đã khó, thực thi càng khó hơn
Việc Mỹ và Iran cùng ký Bản ghi nhớ Islamabad ngày 18/6 được xem là bước đột phá ngoại giao bất ngờ sau hơn 3 tháng giao tranh. Điều đáng chú ý là ngay sau khi văn kiện được công bố, cả Washington lẫn Tehran đều nhanh chóng khẳng định mình là bên giành thắng lợi.
Phát biểu bên lề Hội nghị thượng đỉnh G7, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng, chiến dịch quân sự của Mỹ đã đạt được mục tiêu khi buộc Iran chấp nhận một thỏa thuận bao gồm các điều khoản về chấm dứt xung đột, mở lại eo biển Hormuz và xử lý vấn đề hạt nhân.
Về phía Iran, Tổng thống Masoud Pezeshkian tuyên bố nước này đã bảo vệ được chủ quyền, buộc Mỹ chấm dứt phong tỏa và mở đường cho việc khôi phục các hoạt động kinh tế bị đình trệ.
Ngay cả Hezbollah cũng coi kết quả đàm phán là một thắng lợi của Tehran. Ngày 17/6, thủ lĩnh Hezbollah Naim Qassem mô tả Bản ghi nhớ Islamabad là một “chiến thắng lớn” của Iran, đồng thời cảm ơn Tehran vì đã đưa vấn đề Lebanon vào thỏa thuận, qua đó tạo sức ép buộc Israel phải chấm dứt các hoạt động quân sự.
Tuy nhiên, việc tất cả các bên đều tuyên bố chiến thắng không đồng nghĩa tiến trình thực thi thỏa thuận sẽ diễn ra thuận lợi. Một trong những vấn đề đầu tiên là cách hiểu và cách triển khai các điều khoản trong văn kiện.
Bộ Ngoại giao Iran cho biết, Bản ghi nhớ Islamabad được soạn thảo bằng cả tiếng Anh và tiếng Ba Tư theo đề nghị của Tehran. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei giải thích rằng, nếu văn kiện chỉ tồn tại bằng tiếng Anh, các bên có thể đưa ra những cách diễn giải khác nhau đối với cùng một điều khoản. Chi tiết tưởng như mang tính kỹ thuật này phần nào phản ánh mức độ thiếu tin cậy vẫn tồn tại giữa hai bên sau nhiều thập niên đối đầu.
Thách thức tiếp theo nằm ở chương trình hạt nhân Iran, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc chiến. Theo Điều 8 của Bản ghi nhớ Islamabad, Tehran tái khẳng định cam kết không phát triển vũ khí hạt nhân và hai bên nhất trí xây dựng cơ chế xử lý lượng uranium đã làm giàu của Iran dưới sự giám sát của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA).
Phương án tối thiểu được nêu trong văn kiện là pha loãng lượng vật liệu này ngay trên lãnh thổ Iran. Tuy nhiên, văn bản chưa làm rõ hàng loạt vấn đề then chốt như đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm kiểm kê và xử lý lượng uranium đã làm giàu, cơ chế giám sát cụ thể ra sao, vật liệu sau khi pha loãng sẽ được lưu giữ ở đâu và ai là bên xác nhận Tehran hoàn thành nghĩa vụ. Giới chuyên gia cho rằng, đây đều là những vấn đề kỹ thuật phức tạp, có thể mất nhiều tháng đàm phán.
Nếu không đạt được thỏa thuận trong thời hạn 60 ngày được đề cập trong văn kiện, chính hồ sơ hạt nhân, nguyên nhân châm ngòi cho cuộc chiến, có nguy cơ trở thành nguồn cơn cho vòng đối đầu mới, nhất là trong bối cảnh nhiều quan chức Israel và cả một nhóm nghị sĩ Mỹ, phàn nàn rằng thỏa thuận quá có lợi cho Iran.
Bên cạnh vấn đề hạt nhân, câu chuyện kinh tế cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Bản ghi nhớ Islamabad quy định Mỹ tham gia một quỹ tái thiết trị giá 300 tỷ USD dành cho Iran, đồng thời cam kết từng bước dỡ bỏ các hạn chế kinh tế và tạo điều kiện để Tehran tiếp cận các nguồn tài sản đang bị phong tỏa ở nước ngoài.
Theo ước tính, tổng giá trị tài sản của Iran bị đóng băng có thể lên tới khoảng 100 tỷ USD. Nhưng, văn kiện không quy định cụ thể bao nhiêu tiền sẽ được giải ngân, thời điểm giải ngân hay các tiêu chí đánh giá việc tuân thủ của Iran.
Chính quyền Mỹ khẳng định đây không phải bồi thường chiến tranh mà là hệ quả của quá trình nới lỏng trừng phạt nếu Tehran thực hiện đúng cam kết. Song, cách lý giải này không nhận được sự đồng thuận tuyệt đối ngay tại Mỹ. Bà Rebecca Heinrichs, chuyên gia cấp cao của Viện Hudson, nhận định: “Nó giống chi phí cho những thiệt hại mà Mỹ và Israel đã gây ra cho Iran và nó mang lại cảm giác như một khoản bồi thường chiến tranh”.
Một trong những vấn đề gai góc khác là việc thực thi ngừng bắn ở Lebanon. Bản ghi nhớ Islamabad quy định Mỹ, Iran và các đồng minh của hai bên chấm dứt giao tranh trên mọi mặt trận, bao gồm cả Lebanon, đồng thời cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia này.
Dù giao tranh giữa Israel và Hezbollah đã giảm đáng kể trong những ngày gần đây, thực tế là Israel không phải bên ký kết thỏa thuận. Trong ngày 18/6, khi Mỹ và Iran công bố Bản ghi nhớ Islamabad, Israel tuyên bố tiếp tục tập kích mục tiêu Hezbollah, còn nhóm vũ trang ở Lebanon cũng xác nhận đã giao chiến để đẩy lùi đà tiến công của Tel Aviv.
Theo Reuters, Iran coi việc Israel rút khỏi Nam Lebanon là yếu tố tiên quyết theo Bản ghi nhớ Islamabad, nhưng Thủ tướng Israel Netanyahu tuyên bố sẽ không từ bỏ phần lãnh thổ mà họ đang chiếm giữ.
Hormuz đã mở, nhưng “không trở lại như trước”
Trong khi các nhà ngoại giao còn tranh luận về những điều khoản trên giấy, những tín hiệu đầu tiên từ thực địa đã xuất hiện tại eo biển Hormuz. Công ty dữ liệu hàng hải Lloyd's List Intelligence xác nhận lần đầu tiên sau 110 ngày, các tàu vận tải cỡ lớn thuộc các tập đoàn Cosco, Grimaldi Group, Knutsen và NYK bắt đầu di chuyển qua eo biển.
Theo dữ liệu của Kpler, ít nhất 17 lượt tàu đã đi qua Hormuz chỉ trong 24 giờ đầu tiên eo biển mở cửa, trong đó có 3 siêu tàu chở tổng cộng 6 triệu thùng dầu của Arab Saudi. Phó Tổng thống Mỹ JD Vance cho biết, hơn 12 triệu thùng dầu đã được vận chuyển qua Hormuz ngay trong đêm đầu tiên sau khi Bản ghi nhớ Islamabad có hiệu lực. Đây là mức lưu lượng cao nhất kể từ khi xung đột bùng phát.
Tuy nhiên, việc Hormuz hoạt động trở lại không đồng nghĩa mọi thứ sẽ quay về trạng thái trước chiến tranh. Theo Lloyd's List Intelligence, khoảng 550 tàu thương mại vẫn đang chờ rời vịnh Ba Tư và quá trình này sẽ mất nhiều ngày.
Phillip Belcher, Giám đốc hàng hải của Hiệp hội Các chủ tàu chở dầu độc lập quốc tế (Intertanko), cho biết hành lang giao thông trung tâm của eo biển vẫn đang đóng do còn 80 thủy lôi cần được xử lý.
Hiện, các tàu thuyền chủ yếu sử dụng 2 tuyến thay thế là hành lang phía Bắc đi qua vùng biển Iran và hành lang phía Nam đi qua vùng biển Oman. “Hai tuyến này đã được mở hoàn toàn”, ông Belcher nói và ví tình thế hiện nay giống như “tuyến cao tốc bị đóng làn giữa và mọi phương tiện phải chạy trên làn khẩn cấp”.
Bên cạnh đó, việc hàng trăm tàu ùn ứ ở eo biển Hormuz đã tạo ra hiệu ứng dây chuyền đối với các cảng trung chuyển lớn như Jebel Ali, Colombo, Singapore hay Tanjung Pelepas. Trong thời gian phong tỏa, nhiều hãng tàu buộc phải chuyển hướng qua Mũi Hảo Vọng thay vì đi qua kênh đào Suez và Biển Đỏ.
Không ít doanh nghiệp đã xây dựng lại lịch trình vận tải, hợp đồng hậu cần và kế hoạch cung ứng cho phần còn lại của năm 2026 dựa trên các tuyến đường thay thế này. Vì vậy, ngay cả khi Hormuz được mở lại, việc đưa toàn bộ hệ thống vận tải biển toàn cầu trở về trạng thái trước chiến tranh có thể mất từ vài tháng tới gần một năm.
Một nguy cơ khác với Hormuz là khả năng Iran thu phí với tàu bè. Theo Bản ghi nhớ Islamabad, tàu thương mại được miễn mọi loại phí khi đi qua Hormuz trong vòng 60 ngày. Tuy nhiên, chính điều khoản này lại làm dấy lên suy đoán rằng, sau thời hạn đó, Tehran có thể tìm cách áp dụng cơ chế kiểm soát mới.
Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf mới đây tuyên bố Hormuz sẽ “không trở về trạng thái trước chiến tranh” và Iran có quyền nhận “phí dịch vụ” từ eo biển này. Quan điểm đó lập tức vấp phải phản ứng từ phía Mỹ, vốn cho rằng Hormuz là tuyến hàng hải quốc tế và không thể trở thành đối tượng của bất kỳ cơ chế thu phí đơn phương nào.
Quan trọng hơn, cuộc khủng hoảng vừa qua đã làm thay đổi cách thế giới nhìn nhận Hormuz. Trong nhiều thập niên, eo biển này được xem là tuyến vận tải năng lượng không thể thay thế. Nhưng, 110 ngày phong tỏa đã buộc các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ lớn phải đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung và tuyến vận tải.
“Eo biển Hormuz chắc chắn sẽ ít quan trọng hơn vào năm 2030 hoặc 2035 so với tháng 1/2026”, Elliott Abrams, đặc phái viên về Iran và Venezuela trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Trump, cho biết. “Mọi người phải tìm những lựa chọn thay thế”.
Theo Reuters, các nước Vùng Vịnh hiện đều đang xem xét lại chiến lược xuất khẩu năng lượng. Trong đó, Arab Saudi, UAE và Oman cân nhắc thực hiện các dự án đường ống và cảng biển mới để tránh eo biển Hormuz. Bloomberg, ngày 17/6, dẫn lời Bộ trưởng Ngoại thương UAE Thani Al Zeyoudi tuyên bố nước này “muốn giảm sự phụ thuộc vào eo biển Hormuz xuống 0 và điều này không phụ thuộc vào việc eo biển Hormuz có mở lại hay không”.
Theo ông, trọng tâm kế hoạch của UAE là mở rộng quy mô của các cảng phía Đông Dibba, Fujairah và Khor Fakkan trên vịnh Oman.
Eo biển Hormuz đã được mở lại, nhưng những thay đổi mà cuộc chiến tạo ra đối với khu vực và thị trường năng lượng thế giới có lẽ sẽ còn kéo dài. Điều đó cũng đồng nghĩa việc ký kết Bản ghi nhớ Islamabad chưa phải là điểm kết thúc, mà mới là khởi đầu của một giai đoạn điều chỉnh mới tại Trung Đông.