Nguy cơ nắng nóng đi kèm một đợt El Nino mạnh
Đầu tháng 6/2026, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) phát cảnh báo đáng chú ý: xác suất hình thành El Nino trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 9 năm nay đã lên tới khoảng 80% và tăng lên hơn 90% vào cuối năm.
Bản chất của El Nino vốn là một hiện tượng tự nhiên định kỳ, xảy ra khi gió tín phong yếu đi hoặc đổi hướng, khiến lớp nước biển bề mặt ấm lên một cách bất thường tại khu vực phía Đông và trung tâm Xích đạo Thái Bình Dương. Ngay từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5/2026, nhiệt độ bề mặt đại dương tại khu vực tham chiếu đã chạm ngưỡng kích hoạt, được tiếp sức bởi các dòng chảy ngầm có nhiệt độ cao dị thường.
Đồ họa: Gemini
Dù WMO thận trọng từ chối sử dụng thuật ngữ “Siêu El Nino” do nằm ngoài hệ thống phân loại chính thức, cơ quan dự báo thời tiết của Vương quốc Anh (Met Office) và WMO đều thống nhất dự báo về một đợt El Nino ít nhất sẽ đạt cường độ trung bình, thậm chí có khả năng phát triển thành đợt mạnh. Dựa trên báo cáo từ 13 nguồn khác nhau, Met Office nhận định có khoảng 86% khả năng El Nino sẽ xảy ra vào cuối năm nay.
Điều khiến giới khoa học lo ngại không chỉ nằm ở bản thân El Nino, mà ở sự cộng hưởng của nó với nền nhiệt toàn cầu vốn đã ở mức lịch sử, qua đó tạo ra những kỷ lục nhiệt độ mới. Biến đổi khí hậu do con người gây ra đóng vai trò như một lớp đệm nhiệt liên tục tích tụ nhiệt lượng trong khí quyển và đại dương; khi El Nino xuất hiện, nó kích ngòi cho khối nhiệt lượng khổng lồ đó bung tỏa.
El Nino giai đoạn 2023-2024 là một trong 5 đợt mạnh nhất mà thế giới từng ghi nhận, góp phần khiến 2024 trở thành năm nóng nhất lịch sử, tạm thời vượt ngưỡng 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp - chính là ngưỡng mà cộng đồng quốc tế nỗ lực duy trì theo mục tiêu của Thỏa thuận Paris.
Lần này, El Nino quay lại trên một nền nhiệt cao hơn và hệ quả của nó cũng được dự báo ở mức tương ứng. Trong một đợt El Nino cực mạnh, hiện tượng này có thể cộng thêm khoảng 0,2 độ C vào nhiệt độ trung bình toàn cầu, đồng nghĩa với việc nhiệt độ thế giới có thể chạm mức 1,7 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp vào năm 2027.
Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học tại Đại học Columbia (Mỹ) thậm chí đã đưa ra dự báo tương tự: nhiệt độ toàn cầu có thể tăng 1,7 độ C vào năm 2027 nếu El Nino mạnh trở thành hiện thực. Dự báo này cũng rất tương đồng với đánh giá của Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres mới đây, khi ông mô tả El Nino là một yếu tố “đổ thêm dầu vào ngọn lửa của một thế giới đang nóng lên”.
Thời tiết cực đoan đe dọa an ninh lương thực
Nắng nóng chỉ là một phần hệ quả của El Nino. Hiện tượng này còn làm biến đổi các dòng hoàn lưu khí quyển, kéo theo những thay đổi sâu rộng về lượng mưa, nhiệt độ và hình thái thời tiết tại nhiều khu vực trên thế giới.
Trong các năm El Nino mạnh, miền Tây Nam Mỹ thường đối mặt với mưa lớn và lũ lụt nghiêm trọng. Một số khu vực tại Đông Phi cũng có nguy cơ xuất hiện lượng mưa cao bất thường. Ngược lại, Đông Nam Á, Australia, Nam Á hay Nam Mỹ thường phải đối mặt với hạn hán kéo dài và nguy cơ cháy rừng gia tăng.
“Ở những khu vực mà hiện tượng El Nino mang đến điều kiện khô hạn và ấm áp hơn, nó làm giảm ngưỡng bắt lửa và đẩy nhanh sự lan rộng của các vụ cháy rừng”, bà Sarah Parsons - nhà phân tích của Viện nghiên cứu World Resource Instistute nhận định. “Các vụ cháy này có thể gây ra thiệt hại cần hàng thập kỷ để phục hồi và giải phóng một lượng lớn carbon, làm tăng tốc độ biến đổi khí hậu, tạo ra một vòng luẩn quẩn nguy hiểm khiến rừng càng dễ bị cháy hơn”.
Lịch sử đã nhiều lần chứng minh sức tàn phá của những đợt El Nino cường độ lớn. Giai đoạn 1982-1983 được xem là đợt El Nino mạnh nhất thế kỷ XX, gây ra lũ lụt nghiêm trọng tại khu vực bờ Tây châu Mỹ, hạn hán trên diện rộng tại Indonesia và Brazil, đồng thời làm đảo lộn các mô hình thời tiết ở nhiều châu lục.
Đợt El Nino 1997-1998 tiếp tục để lại những hậu quả sâu sắc. Indonesia hứng chịu các vụ cháy rừng quy mô lớn chưa từng có. Nhiều vùng ở Peru bị tàn phá bởi mưa lũ. Đông Phi ghi nhận các trận mưa cực đoan gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản.
Lần này, theo đánh giá của Tổng thư ký WMO Celeste Saulo, một đợt El Nino mạnh cũng sẽ gây ra những hệ quả rất nghiêm trọng. “Hiện tượng El Nino mạnh sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng hạn hán và mưa lớn, đồng thời làm tăng nguy cơ sóng nhiệt cả trên đất liền và trên đại dương”, bà Celeste Saulo cho biết.
Đi kèm với những diễn biến thời tiết cực đoan ấy là những lo ngại đối với lĩnh vực nông nghiệp và an ninh lương thực. Trong bối cảnh nhiều khu vực trên thế giới vẫn đang phải vật lộn với các hệ quả của xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và chi phí sản xuất tăng cao, một đợt El Nino mạnh có thể tiếp tục làm suy giảm sản lượng nông nghiệp tại nhiều vùng trọng điểm.
Đây chính là “cơn bão kép” mà nhiều chuyên gia lo ngại: thiên tai chồng lên bất ổn địa chính trị, và El Nino tác động vào cả hai. Tiến sĩ Laurie Laybourn, người đứng đầu tổ chức “Sáng kiến rủi ro khí hậu chiến lược” có trụ sở tại Anh, cảnh báo: “Bạn có thể thấy sự gia tăng đồng thời của nghèo đói, suy dinh dưỡng, xung đột, nợ nần - và tất cả các hệ quả sẽ kéo theo như những quân domino lần lượt đổ sập”.
Lời nhắc nhở khẩn cấp cho cuộc chiến khí hậu
Những tác động sâu rộng kể trên khiến những cảnh báo về El Nino hiện nay không còn được nhìn nhận đơn thuần dưới góc độ khí tượng học. Chúng đã trở thành một phần của các cuộc thảo luận về phát triển bền vững, an ninh lương thực, y tế công cộng và quản trị rủi ro thiên tai trên phạm vi toàn cầu.
Trong một bài viết gần đây, Trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc Kamal Kishore nhấn mạnh: Câu hỏi quan trọng không phải là liệu El Nino mạnh có xảy ra hay không, mà là thế giới đã chuẩn bị tốt đến đâu để ứng phó với những hệ quả của nó?”.
Theo Liên hợp quốc, thế giới vẫn đang đối mặt với khoảng cách lớn giữa năng lực dự báo và năng lực ứng phó thực tế. Nhiều quốc gia dễ bị tổn thương nhất lại là những nước thiếu nguồn lực để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, nâng cấp hạ tầng chống thiên tai hoặc hỗ trợ cộng đồng trước các cú sốc khí hậu.
Những con số hiện có làm rõ quy mô của khoảng cách đó. Theo Báo cáo thích ứng khí hậu 2025 của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), nhu cầu tài chính thích ứng của các nước đang phát triển đến năm 2035 ước tính vượt 310 tỷ USD/năm, trong khi dòng tài chính thích ứng quốc tế thực tế chảy đến các nước này chỉ đạt 26 tỷ USD trong năm 2023 - giảm so với 28 tỷ USD năm trước đó. Nói cách khác, nhu cầu thực tế đang gấp 12 đến 14 lần những gì đang được đáp ứng.
Hệ thống cảnh báo sớm - một trong những công cụ ứng phó hiệu quả nhất và chi phí thấp nhất - cũng đang phản ánh sự bất bình đẳng tương tự. Chỉ 60% quốc gia trên thế giới hiện có hệ thống như vậy; con số này chỉ đạt 43% đối với các quốc đảo nhỏ đang phát triển - nhóm dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu.
Trong khi đó, nguồn lực quốc tế dành cho ứng phó khí hậu đang bị thu hẹp ở một số điểm quan trọng. “Quỹ Ứng phó tổn thất và thiệt hại” (FRLD) - được thành lập theo quyết định của COP27 năm 2022 để bù đắp cho các nước dễ bị tổn thương nhất trước các tác động khí hậu không thể đảo ngược - mới nhận được cam kết tài chính khoảng 700 triệu USD tính đến đầu năm 2026, con số cách rất xa so với nhu cầu thực tế.
Trong khi đó, các nước phát triển đang trên đà không đạt được mục tiêu đã cam kết tại Hội nghị COP26: nhân đôi tài chính thích ứng quốc tế so với mức năm 2019, tức đạt khoảng 40 tỷ USD vào năm 2025. Điều này cho thấy, dù công nghệ dự báo đã tiến xa hơn bao giờ hết, nhưng khả năng biến những cảnh báo đó thành hành động bảo vệ người dân - đặc biệt tại các nước nghèo - lại không theo kịp.
El Nino không phải hiện tượng thời tiết duy nhất con người phải đối mặt, và con người cũng không thể đảo ngược các chu kỳ vận động của tự nhiên. Nhưng, chúng ta có thể giảm thiểu tác hại của El Nino bằng chính những lựa chọn của mình.
Thông điệp mà Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres liên tục nhấn mạnh: “Phản ứng hiệu quả duy nhất là hành động khí hậu ngang tầm với khủng hoảng - chấm dứt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đẩy nhanh chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất”.