Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Lực lượng An ninh nhân dân (12/7/1946 - 12/7/2026), Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng khởi đăng loạt tư liệu dài kỳ này với hy vọng giúp bạn đọc hiểu thêm về những chiến công thầm lặng của Lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.Sáng sớm ngày 5/4/1961, tại bến tàu ở Đà Nẵng, một chiếc tàu đánh cá trọng tải khoảng 40 tấn chở theo một chiếc xuồng cao su và một chiếc thuyền nan nhỏ lặng lẽ rời bến. Ra khỏi cửa biển Đà Nẵng, chiếc tàu nhằm thẳng hướng Tây - Bắc.
Trên tàu, ngoài thuyền trưởng và mấy thủy thủ, có một người nói giọng Bắc. Các thủy thủ chỉ được thuyền trưởng thông báo đó là một cán bộ của Trung ương đi công tác đặc biệt. "Cán bộ Trung ương" ấy là điệp viên Phạm Chuyên, biệt danh Ares, một điệp viên được CIA và Liên đoàn 77 dày công tuyển chọn và đào tạo suốt hơn 1 năm trời, lần này được đưa ra Bắc để gây dựng cơ sở ở vùng Đông Bắc Việt Nam.
16 giờ chiều ngày 7/4/1961, khi đã ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, thuyền trưởng cho tàu dừng lại, nấu cơm ăn và nắm cho Chuyên một nắm to. 18 giờ 30 phút, tàu nhổ neo nhằm thẳng hướng có dãy núi đá chạy vào bờ. Sau hơn 3 giờ, tàu đã đi vào khu vực Hồng Gai. Khi chạy qua luồng Cửa Dứa, Quân, nhân viên lái tàu dừng lại, thuyền trưởng lệnh cho nhóm thủy thủ hạ chiếc thuyền nan và chiếc xuồng cao su xuống nước. Sau hơn nửa tiếng chuẩn bị, đưa máy truyền tin và hành lý của Chuyên lên thuyền nan, buộc chiếc thuyền nan vào phía sau xuồng cao su, Chuyên ngồi lên chiếc thuyền nan, Quân lái chiếc xuồng cao su chạy về phía hang Đầu Gỗ rồi rẽ sang ghềnh Si.
2 giờ sáng ngày 8/4, đến ghềnh Si, Quân lái xuồng cao su quay lại tàu, Chuyên bơi thuyền nan theo kênh tiến vào núi đất. Gần sáng, Chuyên mới vào được bờ. Vội vã vác hai chiếc máy truyền tin cùng tư trang lên giấu ở rừng sú, Phạm Chuyên kéo chiếc thuyền vào một lạch nhỏ giữa rừng sú. Vậy là sau gần 2 năm trốn vào Nam, Phạm Chuyên đã trở lại quê hương nhưng với một vai trò khác, điệp viên của CIA với mật danh Ares…
Hơn 1 tháng sau khi điệp viên đơn tuyến Ares xâm nhập bằng đường biển, chiều tối 27/5/1961, từ sân bay Tân Sơn Nhất, một chiếc máy bay vận tải C47 sơn màu xanh nước biển không có số hiệu do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ, Chỉ huy trưởng căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, trực tiếp cầm lái chở toán gián điệp biệt kích mang biệt danh Castor gồm: toán trưởng, Thượng sĩ Hà Văn Chấp cùng 3 Trung sĩ: Đinh Văn Anh, Quách Thức và Lò Văn Piếng nhảy dù xuống tỉnh Sơn La ở Tây Bắc Việt Nam. Toán Castor có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo về hoạt động chuyển quân của Quân đội miền Bắc trên quốc lộ 6 - con đường chính xuyên qua các tỉnh Tây Bắc đến Tây Nam tỉnh Sầm Nưa (Lào). Ngoài vũ khí, lương thực, điện đài, đồ dùng cá nhân, tiền miền Bắc, tiền Lào, bạc trắng hoa xòe, đèn pin, bật lửa, la bàn… mỗi người còn mang theo 100 USD đề phòng khi cần tẩu thoát sẽ dùng đến.
Chiếc C47 chở toán Castor ghé qua Đà Nẵng tiếp thêm nhiên liệu, 20 giờ 15 phút, từ sân bay Đà Nẵng, chiếc C47 bay ra vịnh Bắc Bộ. Sau đó theo hướng tây bắc bay qua không phận tỉnh Hòa Bình, băng qua sông Đà hướng về phía Sơn La. 22 giờ 5 phút, đến cao điểm 828, Nguyễn Cao Kỳ bật đèn xanh, cho đẩy những thùng đồ tiếp tế ra phía cửa sau, toán Castor cũng nhảy theo. Chiếc C47 vòng lại, bay về hướng Nam…
Để có hai chuyến hành quân mở màn này, CIA và Liên đoàn 77 đã mất 5 năm chuẩn bị với một kế hoạch công phu, bài bản và quy mô chưa từng có. Vì thế, ngoài toán Castor, tại Trung tâm Huấn luyện Long Thành ở Biên Hòa có hàng trăm lính biệt kích đang huấn luyện chuẩn bị cho kế hoạch dài hơi với mục tiêu đánh cộng sản trong lòng cộng sản.
2.Chuyện bắt đầu từ tháng 9/1954, chỉ hai tháng sau khi Hiệp định Geneve về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, Mỹ thành lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản và đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực.
Tổng thống Mỹ Eisenhower là người theo đuổi "Học thuyết trả đũa hàng loạt" mà nội dung cốt lõi là: Mỹ có thể sử dụng ưu thế về kỹ thuật và công nghệ để xác định cách thức đối phó với đe dọa và thách thức của kẻ thù; Mỹ quyết định cách thức, thời gian và chiến trường cho cuộc chiến; công nghệ có thể thay thế cho nhân lực và vũ khí hạt nhân tối tân có thể ngăn chặn tất cả mọi mưu kế của Liên Xô và khối Cộng sản.
Cuối năm 1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã đích thân chọn Đại tá Edward Geavy Lansdale, Phó giám đốc Phòng hành quân đặc biệt thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đến Sài Gòn hỗ trợ Ngô Đình Diệm củng cố chính quyền và tổ chức các cơ sở bán quân sự nằm vùng tại miền Bắc bằng cách thành lập Phái bộ quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission).
Khi đó, Lansdale được coi là chuyên gia đầy kinh nghiệm điều hành những hoạt động chống du kích, với thành công trong việc giúp Chính phủ Philippines dập tắt cuộc nổi dậy của lực lượng du kích Hukbalahap trong những năm đầu thập niên 1950.
Đầu năm 1956, Mỹ đưa 100 lính thuộc Lực lượng đặc biệt (Special Force - một binh chủng của Lục quân Mỹ thành lập năm 1952 với nhiệm vụ hoạt động du kích và chống du kích, hỗ trợ quân chính quy; huấn luyện, tổ chức và chỉ huy người bản xứ các nước thành lực lượng vũ trang hoạt động theo kiểu du kích nhằm thực hiện học thuyết chống nổi dậy của Mỹ) đến Sài Gòn để nghiên cứu tình hình, chuẩn xây dựng lực lượng đặc biệt ở miền Nam.
Tháng 6/1956, Mỹ tiếp quản và nâng cấp Trung tâm Huấn luyện Gián điệp biệt kích hỗn hợp nhảy dù của Pháp tại Nha Trang (GMA Trung Kỳ) đồng thời tuyển dụng lại tất cả số sĩ quan, binh lính GCMA của Pháp. Tiếp đó, CIA giúp chính quyền Sài Gòn thành lập nhiều cơ quan Tình báo đặc biệt trực thuộc Phủ Tổng thống do Trần Kim Tuyến chỉ huy. Trong đó bộ phận chuyên đảm nhiệm các hoạt động biệt kích là Liên đội biệt động, với tên gọi là "Liên đội quan sát 1" thuộc "Sở Liên lạc" do Trung tá Lê Quang Tung chỉ huy, Đại úy Trần Khắc Kính phụ tá và phụ trách khâu tuyển mộ nhân viên là Lê Quang Triều (em ruột của Lê Quang Tung) dưới hình thức chỉ huy một đại đội trong đơn vị phòng vệ Phủ Tổng thống để che giấu những hoạt động bí mật.
"Liên đội quan sát 1" có nhiệm vụ chính là tung người ra miền Bắc Việt Nam hoạt động tình báo, phá hoại, xâm nhập vào vùng hậu phương của Pathét Lào và giúp các lực lượng phản động Lào, Campuchia tổ chức biệt kích xâm nhập các vùng căn cứ cách mạng, hoạt động tình báo, chống hoạt động du kích của các lực lượng cách mạng tại các vùng tạm chiến ở miền Nam. Từ đây, mọi sự trợ giúp của CIA với các hoạt động bí mật ở miền Bắc Việt Nam được tiến hành thông qua “Liên đội quan sát 1”.
Cuối năm 1956, Lansdale tuyển chọn 65 sỹ quan tình báo và quân sự của quân đội Sài Gòn đưa đi huấn luyện tại Philippines và sau đó bổ túc nghiệp vụ tại Mỹ rồi đưa về Nha Trang làm hạt nhân xây dựng lực lượng biệt kích. Khóa đầu tiên, gồm 18 toán do Cố vấn Mỹ trực tiếp huấn luyện. Tháng 6/1957, Liên đoàn biệt kích 1 của Mỹ cử một số nhân viên sang miền Nam huấn luyện cho 58 lính biệt kích của quân đội Sài Gòn tại Trung tâm Huấn luyện biệt động ở Nha Trang.
Cuối năm 1957, “Liên đội quan sát 1” nâng cấp thành "Sở khai thác địa hình" trực thuộc Phủ Tổng thống do Lê Quang Tung chỉ huy, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cố vấn Ngô Đình Nhu và Tổng thống Ngô Đình Diệm với lực lượng biệt kích gồm hàng trăm lính, do cố vấn Mỹ trực tiếp quản lý và điều hành từ khâu tuyển chọn, huấn luyện đến định hướng hoạt động.
Trong cơ cấu tổ chức của Sở khai thác địa hình thì Phòng E - Phòng 45 (sau còn được gọi là Sở Bắc), chịu trách nhiệm về những hoạt động biệt kích ở miền Bắc Việt Nam, trên lãnh thổ Lào và Campuchia; Sở Nam - Phòng 55 chịu trách nhiệm về những hoạt động biệt kích trong lãnh thổ miền Nam.
Để rút kinh nghiệm trong quá trình đào huấn và vạch kế hoạch hoạt động, từ năm 1957, CIA và Sở khai thác địa hình tung các toán biệt kích ra miền Bắc qua tuyến biên giới Việt - Lào vào vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng tập trung đông đồng bào theo đạo Thiên chúa. Thời điểm này, các toán biệt kích cũng được tung vào vùng căn cứ cách mạng ở miền Nam và vùng mới giải phóng ở Lào. Các toán đều có cố vấn Mỹ đi cùng chỉ huy, vừa để thăm dò tình hình cũng như đáp ứng yêu cầu diễn tập để rút kinh nghiệm trước khi chính thức phát động cuộc chiến tranh.
Tháng 8/1958, sau khi Ngô Đình Diệm tiếp tục yêu cầu giúp đỡ để tiến hành các hoạt động bí mật chống Cộng sản Việt Nam, CIA lập Ban Ngoại vụ tại Sài Gòn để làm việc với Phòng liên lạc phủ Tổng thống, do Russell Miller làm Trưởng ban. Tháng 11/1958, theo chỉ đạo của Russell Miller, Lê Quang Tung tuyển chọn 12 lính từ cấp bậc Thiếu úy đến Trung úy, đặt dưới quyền chỉ huy của Đại úy Ngô Thế Linh đưa đi Saipan (hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Mariana của Mỹ) đào tạo 2 tháng về nghiệp vụ tình báo, tác chiến, phương thức phá hoại và chỉ huy đường dây tình báo. Kết thúc khóa huấn luyện trở về, Đại úy Ngô Thế Linh được bổ nhiệm làm Trưởng phòng 45.
Ngày 1/1/1959, CIA và chính quyền Ngô Đình Diệm ký bản thỏa thuận chung, cùng tiến hành các điệp vụ ngầm chống miền Bắc. Từ đây, CIA chính thức thiết lập mối quan hệ với chính quyền Diệm, giúp củng cố tổ chức và đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích với nhiệm vụ đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam, và tung gián điệp, biệt kích phá hoại miền Bắc. Tháng 2/1959, CIA và Phòng 45 tuyển chọn 5 sĩ quan đưa đi Saipan huấn luyện khóa ngắn hạn 6 tuần. Sau đó, CIA cử nhân viên đến Sài Gòn huấn luyện 2 khóa trong thời gian 12 tuần, gồm những sĩ quan trẻ quê miền Bắc, là người dân tộc thiểu số. Trong khi tổ chức các khóa huấn luyện gián điệp biệt kích, Phòng 45 đã lập kế hoạch 5 năm để xâm nhập ra miền Bắc.
Cuối năm 1959, sau khi có thông tin về việc Hà Nội lập hai đơn vị vận tải quân sự dọc Trường Sơn (Đoàn 559) và đơn vị vận tải vượt biển Đông (Đoàn 750), Mỹ ngày càng thấy rõ vai trò và vị trí của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam. Phó Tổng thống Mỹ Johnson lưu ý quân đội Mỹ phải “tập trung chú ý vào miền Bắc, coi miền Bắc là nguồn gốc của mọi vấn đề”.
Tháng 11/1959, John F. Kennedy đắc cử Tổng thống Mỹ. Ngay khi vào Nhà Trắng, Tổng thống Kennedy đã chỉ trích chính sách an ninh quốc gia nói chung và học thuyết trả đũa hàng loạt của người tiền nhiệm Eisenhower. Để đối phó với tình hình bất lợi trên chiến trường Việt Nam, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ triệu tập cuộc họp bất thường, thông qua bản “Kế hoạch chống nổi loạn cơ bản cho Việt Nam”.
Bản kế hoạch đề cập: “Bắt đầu từ tháng 12/1959, ở khắp miền Nam các hoạt động du kích và chống trả của Việt cộng ngày càng gia tăng. Việt cộng với sự hậu thuẫn của Hà Nội đang thực hiện mục tiêu sáp nhập Nam Việt Nam vào khối cộng sản trong điều kiện chính quyền Sài Gòn không thể làm chậm chứ đừng nói đến việc ngăn chặn ngày tận thế đang đến gần”.
Vì vậy yêu cầu: “Việc vô hiệu hóa và đánh bại thách thức của Việt cộng ở Nam Việt Nam, một nhiệm vụ sẽ đơn giản hơn nhiều nếu sự giúp đỡ của miền Bắc Việt Nam bị loại trừ (…). Để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh du kích - một cuộc chiến tranh không giới tuyến hoặc chiến trường, cần có những chính sách và chiến lược mới. Mọi điều ở Nam Việt Nam cần được thay đổi”.
Tại cuộc họp này, Tổng thống Kennedy yêu cầu Giám đốc CIA Allen Dulles báo cáo kết quả về sự giúp đỡ của CIA đối với hoạt động ngầm của chính quyền Ngô Đình Diệm chống miền Bắc Việt Nam. Tổng thống Kennedy không hài lòng với những cố gắng của CIA và tuyên bố: “Muốn có du kích hoạt động ở miền Bắc, hãy cho miền Bắc nếm thử những gì họ đang làm đối với chúng ta ở miền Nam và làm ngay lập tức". Đây chính là điểm khởi đầu cho những gì về sau trở thành chiến dịch hoạt động ngầm lớn nhất và phức tạp nhất mà Chính phủ Mỹ thực hiện trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Đầu năm 1960, CIA tăng cường 30 biệt kích Mũ nồi xanh từ căn cứ Fort Bragg sang miền Nam để xây dựng chương trình huấn luyện cho Quân đội Sài Gòn; đảm trách nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện những đơn vị biệt kích là người dân tộc thiểu số để phá hoại, ngăn chặn đường chi viện của Quân đội miền Bắc vào Nam.
Tháng 11/1960, Phòng 45 thuộc "Sở khai thác địa hình" đổi tên thành “Liên đoàn 77”, là lực lượng nòng cốt của lực lượng đặc biệt, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Liên đoàn 77 có nhiệm vụ xâm nhập bằng đường bộ, đường thủy, đường không vào những địa bàn trọng điểm ở miền Bắc, chủ yếu là các vùng tập trung nhiều giáo dân, vùng dân tộc thiểu số để tổ chức lực lượng ngầm, tiến hành các hoạt động phá hoại cơ sở kinh tế, quốc phòng.
Tiếp đó, 4 trung tâm huấn luyện gián điệp biệt kích được thành lập gồm: Trung tâm Huấn luyện Long Thành (Biên Hòa); Trung tâm Huấn luyện người nhái ở Mỹ Khê (Đà Nẵng); Trung tâm Loong Cheng (Lào) và Trung tâm Phú Bài (Huế), do Đại tá Lê Quang Tung và Trung tá Trần Khắc Kính chỉ huy; Smith, Bell làm cố vấn; linh mục Nguyễn Viết Khai làm “cố vấn tinh thần”. Với 4 trung tâm này, CIA đầu tư các loại phương tiện, vũ khí hiện đại nhất, sử dụng đội ngũ chuyên gia dày dạn kinh nghiệm để huấn luyện và điều hành gián điệp biệt kích.
Để tuyển chọn nhân sự, Liên đoàn 77 lập danh sách những người miền núi phía Bắc lưu vong Lào và di cư vào miền Nam, thường là thanh niên từ 18 - 35 tuổi. Việc tuyển lựa không tiến hành ồ ạt mà được xây dựng lực lượng dự trữ bằng cách thành lập những đơn vị quân đội riêng của từng dân tộc, từng địa phương thuộc miền Bắc, rồi qua quá trình đào tạo trong quân đội, theo dõi, thẩm tra kỹ để chọn vào đội biệt kích. Hoặc lấy những thanh niên theo đạo đã được theo dõi trong các trại định cư của đồng bào Thiên chúa di cư vào Nam. Ngoài điều kiện về sức khỏe, năng khiếu, thành phần xuất thân, am hiểu địa lý và phong tục tập quán, khả năng thuyết phục quần chúng địa phương còn phải có tư tưởng “thâm thù với cách mạng”. Trong thời gian từ 3 - 6 tháng, các nhóm biệt kích được huấn luyện về công tác tình báo, mật mã và kỹ thuật truyền tin; cách sử dụng tàu thuyền và phương tiện xâm nhập khác. Lính biệt kích được hưởng chế độ lương thưởng cao hơn binh lính các binh chủng khác.
Kết thúc khóa huấn luyện, các nhóm biệt kích lựa chọn địa bàn tương tự các mục tiêu định xâm nhập để thực tập và kiểm tra đánh giá kết quả.
3.Ngày 11/5/1961, Tổng thống Kennedy ra lệnh triển khai “chiến dịch chiến tranh bí mật”. Tháng 6/1961, Eugene Staley, một chuyên gia kinh tế thuộc Viện Nghiên cứu Stanford, dẫn đầu phái đoàn quân sự Mỹ sang Sài Gòn hoạch định thí điểm “Chiến tranh đặc biệt”. Ngày 21/9/1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố "sẽ tăng thêm ngân sách viện trợ về quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gòn". Thực hiện mệnh lệnh này, “Liên đoàn biệt kích số 5" được điều đến miền Nam Việt Nam chuẩn bị các cuộc "hành quân ngoại lệ".
Cơ cấu tổ chức của “Liên đoàn biệt kích số 5” gồm: Bộ Chỉ huy trung tâm, Ban Chỉ huy các đại đội, một đại đội truyền tin và một phi đoàn Không quân yểm trợ.
Tháng 10/1961, Tổng thống Kennedy tiếp tục cử Cố vấn quân sự Taylor sang Sài Gòn nghiên cứu bổ sung kế hoạch Staley, cho ra đời Kế hoạch Staley - Taylor với ba nội dung chủ yếu: "Bình định ở miền Nam trong vòng 18 tháng, đồng thời gây cơ sở ở miền Bắc"; "Tăng cường quân sự, khôi phục kinh tế ở miền Nam; tăng cường phá hoại ở miền Bắc"; "Phát triển kinh tế miền Nam đồng thời tấn công miền Bắc". Vì vậy, Mỹ coi Chiến tranh gián điệp biệt kích là một mắt xích trọng yếu để triển khai kế hoạch Staley- Taylor.
Mục tiêu chủ yếu là khống chế tuyến đường huyết mạch ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, ngăn chặn chi viện của các nước Xã hội chủ nghĩa cho cách mạng Việt Nam; xây dựng lực lượng ngầm ở các tỉnh miền núi và gây phỉ, làm rối loạn địa bàn chiến lược vùng núi; thu tin tình báo, chỉ điểm cho không quân, hải quân đánh phá; Phá hoại các công trình quốc phòng, giao thông, kho tàng, các cơ sở kinh tế, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho miền Nam; gây chiến tranh tâm lý.
4.Sau khi hoàn tất khâu chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích, từ đầu năm 1961, CIA và Liên đoàn 77 chính thức tung các toán gián điệp biệt kích ra miền Bắc bằng cả đường không, đường bộ và đường biển. Vì vậy, CIA đặt kỳ vọng rất lớn vào Ares và toán Castor, bởi nếu thành công bằng hai nhóm mở màn này sẽ triển khai ồ ạt tung điệp viên đơn tuyến và các toán gián điệp biệt kích ra miền Bắc bằng cả đường không và đường biển.
Nhiệm vụ của các toán gián điệp biệt kích là móc nối với các phần tử phản cách mạng trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, thu thập tin tức tình báo, phá hoại, tập kích bắt cóc, ám sát cán bộ; tiến hành tâm lý chiến. Địa bàn xâm nhập của chúng là những vùng cơ sở ta yếu, cơ sở địch nhiều; vùng có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc ẩn nấp, khó khăn cho việc điều động lực lượng của ta.
Để xâm nhập bằng đường không, CIA dùng loại máy bay C47, DC3, DC4, DC6 không mang số hiệu, bay đến địa điểm đã chọn sẵn rồi cho biệt kích nhảy dù xuống. Máy bay sẽ bay theo đường biển, ở tầm thấp; thời điểm xâm nhập từ 22h tối đến 2-3 giờ sáng; hoặc cho trực thăng hạ cánh bên kia biên giới Việt - Lào rồi biệt kích đổ bộ, móc nối với lính của Vàng Pao dẫn đường xâm nhập vào miền Bắc.
Đối với phương thức xâm nhập bằng đường biển, sẽ dùng tàu hoặc thuyền lớn chuyên chở gián điệp biệt kích đến vùng biển định xâm nhập rồi sử dụng thuyền nhỏ, phao hoặc cho biệt kích dùng phương tiện người nhái để vào bờ. Lúc này, tàu hoặc thuyền chuyên chở lùi ra một tọa độ nhất định để chờ tín hiệu an toàn của toán gián điệp biệt kích mới rút lui; thời điểm xâm nhập, thường là lúc biển lặng, công tác quản lý bờ biển của bộ đội có sơ hở.
Trường hợp bị phát hiện, phải rút lui thì tàu hoặc thuyền ngoài khơi bắn pháo yểm trợ để biệt kích rút chạy. Đối với phương thức xâm nhập bằng đường bộ (qua giới tuyến, qua biên giới Việt - Lào, biên giới Việt Nam - Campuchia hoặc vùng giáp ranh). Các toán biệt kích được vận chuyển bằng ô tô hoặc trực thăng đến gần địa điểm xâm nhập, chôn giấu bớt đồ đạc, móc nối với cơ sở cài cắm trên địa bàn để dẫn đường. Sau khi thám sát tình hình biên giới sẽ bí mật đột nhập qua tuyến biên phòng hoặc hóa trang thành bộ đội, cán bộ miền Bắc, phân tán thành từng tốp nhỏ như người dân đi rừng...
Tuy nhiên, mọi chuyện đã không như CIA và các chỉ huy Liên đoàn 77 tính toán.
Còn nữa