Cảm xúc tạo nên chất trữ tình của thơ

Thơ là tiếng nói của đời sống tâm hồn. Nếu văn xuôi thường nghiêng về kể chuyện, miêu tả sự kiện, xây dựng nhân vật, thì thơ lại nghiêng về bộc lộ cảm xúc và tâm trạng. Chính cảm xúc làm nên chất trữ tình của thơ với cái "tôi" rung động trước đời sống, trước thiên nhiên, con người, tình yêu, quê hương, thời gian, thân phận, lịch sử.

Cảm xúc là ''mầm sống'' nảy sinh ý tưởng thơ

Không có cảm xúc, thơ dễ trở thành lời nói khô cứng, khẩu hiệu hoặc triết lý lạnh lùng. Một số bạn yêu thơ từng hỏi tôi về những cung bậc cảm xúc của thơ trữ tình. Theo tôi, cảm xúc là điểm khởi đầu của thơ. Thơ thường không bắt đầu từ một câu chuyện hoàn chỉnh hay một luận đề rõ ràng, mà bắt đầu từ một rung động nội tâm. Đó có thể là niềm vui, nỗi buồn, cô đơn, nhớ thương, xót xa, phẫn nộ, day dứt, biết ơn, hoài niệm…

bia-dt.jpg
Nhà thơ Nguyễn Duy.

Một cảnh vật rất bình thường cũng có thể trở thành thơ nếu nó chạm vào cảm xúc của nhà thơ. Vì thế, cảm xúc là "mầm sống" đầu tiên làm nảy sinh ý thơ. Cùng một hiện thực, mỗi nhà thơ sẽ nhìn bằng một tâm trạng khác nhau. Cảm xúc quyết định nhà thơ nhìn sự vật từ góc độ nào. Một cánh đồng có thể gợi sự bình yên, cũng có thể gợi nỗi nhớ quê, nỗi nghèo khó, sự mất mát hoặc khát vọng hồi sinh. Một mùa thu có thể là vẻ đẹp dịu dàng, nhưng cũng có thể là dấu hiệu của chia ly, tàn phai, cô đơn. Vì vậy, cảm xúc không chỉ là nội dung bên trong, mà còn chi phối cách nhà thơ cảm nhận, lựa chọn và tái tạo hiện thực.

Cảm xúc được chuyển hóa thành hình ảnh, nhịp điệu, âm thanh, màu sắc, biểu tượng. Khi cảm xúc dồn nén, câu thơ có thể ngắn, gấp, mạnh. Khi cảm xúc lắng sâu, câu thơ có thể chậm, mềm, ngân dài. Khi cảm xúc mơ hồ, ngôn ngữ có thể giàu liên tưởng, nhiều khoảng trống, nhiều ẩn dụ. Nói cách khác, cảm xúc là lực bên trong điều khiển hình thức nghệ thuật của bài thơ.

Mỗi nhà thơ có một kiểu cảm xúc riêng, từ đó tạo nên giọng điệu riêng. Có người tha thiết, nồng nàn; có người trầm tĩnh, suy tư; có người dữ dội, phản kháng; có người trong trẻo, hồn nhiên; có người cô đơn, ám ảnh. Giọng thơ chính là dấu vân tay cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhờ cảm xúc riêng biệt ấy, thơ của mỗi người không bị hòa lẫn vào người khác. Thơ chỉ thực sự sống khi cảm xúc của nhà thơ tìm được sự đồng vọng nơi người đọc. Cảm xúc vì thế là cây cầu nối giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng của nhà thơ và cái chung của con người. Từ một nỗi đau riêng, thơ có thể chạm đến thân phận chung. Từ một kỷ niệm cá nhân, thơ có thể gợi dậy ký ức của nhiều người. Cảm xúc cần đi cùng tư tưởng và chiều sâu trải nghiệm. Tuy cảm xúc rất quan trọng, nhưng thơ không thể chỉ có cảm xúc bộc phát. Cảm xúc càng sâu khi nó gắn với trải nghiệm sống, với suy tư, với nhận thức về con người và cuộc đời.

Cảm xúc suy tưởng sâu lắng trong thơ lục bát Nguyễn Duy

Có thể nói cảm xúc trữ tình đậm chất suy tư, suy tưởng sâu lắng là thế mạnh trong thơ lục bát của Nguyễn Duy. Ông đưa vào lục bát những nỗi buồn quê kiểng, tình mẹ, ký ức bạn bè, thân phận con người, cả những nghịch lý nhân sinh tưởng như bông đùa mà thấm thía. Cảm xúc trữ tình trong thơ ông không ồn ào, không dàn trải theo kiểu kể lể thuần túy, mà thường đi từ một hình ảnh rất nhỏ, rất đời thường để chạm tới những suy nghĩ sâu xa về cội nguồn, đạo lý, tình người và sự mong manh của kiếp sống. Hai bài thơ nổi tiếng "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa", "Xẩm ngọng" cho thấy rõ một Nguyễn Duy vừa dân gian vừa hiện đại, vừa hóm hỉnh vừa đau đáu, vừa gần gũi trong lời ăn tiếng nói lại vừa sâu lắng trong tầng nghĩa.

Trước hết, "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa" là một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu nhất cho mạch cảm xúc trữ tình sâu nặng của Nguyễn Duy. Câu thơ "Mẹ ta không có yếm đào/ nón mê thay nón quai thao đội đầu" đã đặt người mẹ vào một đối sánh thầm lặng. Nguyễn Duy không tô son cho hình tượng mẹ. Ông để mẹ hiện lên đúng như mẹ đã sống: chân chất, nhẫn nại, âm thầm. Cảm xúc trữ tình ở đây vì thế có độ sâu của sự biết ơn muộn màng.

Hai câu "ta đi trọn kiếp con người/ cũng không đi hết mấy lời mẹ ru" là điểm lắng sâu nhất của bài thơ. Lời ru của mẹ không còn chỉ là âm thanh tuổi thơ, mà trở thành một triết lý sống, một nguồn nuôi dưỡng tinh thần. "Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn" là một cách nói giản dị mà thấm thía khi mẹ không chỉ sinh thành, nuôi nấng thân thể con, mà còn truyền cho con phần hồn, phần văn hóa, phần đạo lý.

Đặc biệt, câu thơ "lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa" là một hình ảnh vừa cụ thể vừa ám ảnh. "Chỗ ướt" gợi lại sự hy sinh thầm lặng của mẹ khi mẹ nhường chỗ khô cho con, nhận phần ẩm lạnh về mình. Nhưng trong chiều sâu biểu tượng, "chỗ ướt" ấy còn là vùng ký ức không bao giờ khô cạn trong lòng người con. Nó là nơi đau đáu, nơi ân hận, nơi tình thương lặng lẽ thấm mãi. Cảm xúc trữ tình của Nguyễn Duy vì thế không chỉ dừng ở nhớ thương, mà lắng xuống thành tự vấn. Nhớ mẹ cũng là nhớ lại một đời nghèo khó, một nền nếp quê mùa, một đạo lý sống giản dị mà sâu bền.

Bìa tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Duy.

Bìa tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Duy.

Nếu "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa" là cảm xúc trữ tình trong chiều sâu hoài niệm và tri ân, thì "Xẩm ngọng" lại là một kiểu trữ tình khác qua giọng giễu nhại, nghịch ngợm, tưởng như đùa mà hóa ra rất nghiêm. Nhịp thơ có vẻ bông lơn, ngọng nghịu, ngang trái. Nhưng đằng sau cái giọng xẩm ấy là một cái nhìn sâu sắc về đời sống khi trong thế gian này, mọi sự vật, mọi con người đều có thể trở thành "xúc phạm" đối với nhau chỉ vì chúng khác nhau, đối lập nhau, hoặc làm lộ ra sự thiếu hụt của nhau.

Điệp từ "xúc phạm" được lặp đi lặp lại tạo nên một kết cấu đặc biệt. Ban đầu, những liên tưởng có vẻ buồn cười: "con trâu xúc phạm sợi thừng cột trâu", "bông hoa xúc phạm con sâu", "con cá xúc phạm lưỡi câu ao nhà". Nhưng càng đọc, người ta càng thấy đằng sau sự phi lý ấy là một triết lý nhân sinh chua chát. Cái siêng làm "xúc phạm" cái phàm ăn, kẻ đi "xúc phạm" kẻ nằm dài, cái sang "xúc phạm" cái nghèo, cái ngay "xúc phạm" cái khoèo bẩm sinh. Thế giới trong bài thơ là một thế giới đầy va chạm, nơi sự tồn tại của cái này vô tình làm đau cái khác. Cái đẹp làm lộ sự xấu xí, cái thiện làm lộ cái ác, cái ngay thẳng làm lộ sự lệch lạc, cái tỉnh táo làm lộ cái say khướt.

Lục bát Nguyễn Duy vì thế vừa quen vừa lạ. Quen vì nó tiếp nối mạch ca dao, lời ru, hát xẩm, giọng quê. Lạ vì trong cái vỏ dân gian ấy là một cái tôi hiện đại, nhiều day dứt, nhiều tự vấn, nhiều ý thức về sự mất mát. Nguyễn Duy không làm mới lục bát bằng cách phá bỏ nó, mà làm mới bằng cách đưa vào đó những tầng suy nghĩ mới, những nghịch lý mới, những cảm giác hiện đại về thời gian, ký ức và thân phận. Cảm xúc trữ tình trong thơ ông không chỉ để làm mềm lòng người đọc, mà còn khiến người đọc phải dừng lại để nghĩ. Có thể nói hồn thơ của Nguyễn Duy sâu nặng với cội nguồn, tỉnh táo trước nhân sinh và bâng khuâng trước thời gian.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.