Thơ có còn cần cho đời sống hiện đại hôm nay?

Đã có không biết bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho thơ hôm nay rằng thơ có còn mang lại những giá trị cần thiết cho đời sống và con người. Thơ không chỉ là hình thức nghệ thuật của ngôn từ, mà còn biểu hiện sâu xa của văn hóa và tâm hồn dân tộc.

Viết từ sự thôi thúc của nội tâm

Khi xã hội chuyển mình theo hướng toàn cầu hóa và kỹ trị, giá trị tinh thần đứng trước nguy cơ bị đồng hóa và phai nhạt, vậy thơ có còn chỗ đứng, vị trí trong đời sống văn nghệ và trong lòng bạn đọc. Thơ có cần cho đời sống hiện đại hay không. Câu hỏi này không chỉ là đi tìm vị trí của thơ trong nền văn học thời đại mới, mà còn là sự truy vấn về khả năng con người giữ gìn căn tính văn hóa, nhân bản và cảm xúc trong thế giới đầy biến động hôm nay.

Nhân dịp nhà thơ Tiến Thanh vừa ra mắt cuốn trường luận "Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết" gồm 165 chương, suy ngẫm của một người làm thơ và yêu thơ. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có một cuộc bàn tròn thú vị cùng nhà thơ Tiến Thanh, nhà thơ, Tiến sĩ văn học Đỗ Anh Vũ và nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam xung quanh vấn đề này.

Thơ có còn cần cho đời sống hiện đại hôm nay? -0
Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh trong cuộc trò chuyện về thơ với nhà văn Như Bình.

- Chúc mừng anh vừa xuất bản một cuốn trường luận dày dặn có tựa đề đáng suy ngẫm:“Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết”. Vì sao anh đưa ra mệnh đề này?

+ Vấn đề tôi đưa ra trong cuốn sách này không mới, đó là trăn trở của những người làm thơ qua nhiều thời đại. Nhà thơ Phùng Quán từng viết rằng, “Những lúc yếu lòng ta vịn câu thơ mà đứng dậy”. Trong quá trình làm thơ và cảm nhận những va đập của đời sống hiện đại, những câu hỏi đó lại vang lên.

Liệu thơ có sống sót trong thời đại công nghệ, của những “like”, “share”, “hashtag”, của những tương tác trên thế giới ảo nhưng ảnh hưởng sâu sắc đến mọi loại hình như nghe đọc, viết và đặc biệt là cảm xúc.

Thơ trong cơn bão đó cũng rất yếu mềm. Liệu thơ có còn hiện diện trong đời sống hiện tại không? Nếu còn hiện diện thì vai trò của nó như thế nào? Liệu thơ có còn cứu rỗi chúng ta, cứu rỗi vẻ đẹp của thế giới, cứu rỗi sự nhân văn trong cảm xúc của con người hiện đại đang bị quá nhiều thứ bủa vây.

Cuối cùng, trong sâu thẳm, tôi vẫn tin rằng, giá trị của thơ bất biến, thơ vẫn hiện diện trong đời sống theo một cách nào đó và nó cứu rỗi tâm hồn chúng ta khỏi sự vô cảm, khỏi những băng giá để trái tim không bị vôi hóa giữa đời sống quá nhanh. Để thuyết phục điều đó, tôi đưa ra mệnh đề này và tôi cũng tự an ủi rằng, thơ đang cứu chính những người viết.

- Đây là một cuốn sách phi thể loại, trong đó có tiểu luận, có sáng tác, tự sự, đôi khi lại như một trường ca về văn xuôi không đầu không cuối, có quá nhiều thứ trong một cuốn sách. Liệu anh có quá ôm đồm?

+ Với tôi, đó là cuộc đối thoại của người viết với thơ và tôi dùng nhiều cách thức khác nhau. Trong từng khoảnh khắc của cảm xúc,cuộc đối thoại hiện ra với nhiều dáng vẻ khác nhau, có thể là một người đàn ông trong lúc tuyệt vọng đang vịn vào câu thơ mà sống; có lúc như một lời tự sự, có khi lại cả một bài thơ dài; có lúc là một luận điểm về hậu hiện đại… Tôi không định dạng lối viết của mình mà để cảm xúc, suy nghĩ dẫn dắt.

- Nếu tôi nói đó là một cuốn sách phức tạp, nó là một biên bản chữ, một cuộc đối thoại dài, miên man, mâu thuẫn, xáo trộn, đan cài, bất ổn bởi những phức hợp của cảm xúc và định nghĩa giữa anh và bản thể mà trong đó nhân chứng là thơ. Rốt cuộc là anh viết cái gì và viết cho ai?

+ Tôi viết cuốn sách này trước hết từ chính thôi thúc nội tâm của mình, viết cho chính mình và tất nhiên là viết cho bạn đọc. Trong nhiều trường đoạn nó là những biên bản của linh hồn. Nếu nói rằng, tôi cố tình viết một trường luận phức hợp, đan cài và đa thanh thì không phải. Trường luận này có những bài tôi viết rải rác trong 20 năm qua, nhưng khoảng 6 tháng gần đây, tôi lâm vào một cơn viết, cảm giác của nó vừa rất thăng hoa nhưng cũng rất đáng sợ. Khi viết xong, thoát ra khỏi trạng thái đó, tôi cảm thấy mình rỗng hết người, như thoát xác, trút được một gánh nặng.

- Vậy điều gì thôi thúc anh viết cuốn sách này, nỗi đau, niềm tin hay sự giải thoát?

+ Tôi nghĩ là cả 3, nếu chỉ nỗi đau thì chưa đủ, trong nỗi đau có niềm vui, hạnh phúc, trong niềm tin có cả nỗi tuyệt vọng của người làm thơ, làm sao thơ còn hiện diện trong cõi sống này. Nhưng cuối cùng là niềm kiêu hãnh của một người làm thơ với xác tín: “Nếu một ngày cuốn sách này thất lạc, nếu những gì bạn viết không còn tên, không còn người nhận, nếu mọi tạp chí đều đóng cửa, mọi mạng xã hội đều im tiếng thì vẫn - còn thơ - như một ngọn lửa mảnh le lói trong gió.

Thơ có còn cần cho đời sống hôm nay

nha phe binh van hoc nguyen hoai nam.jpg -0
Nhà phê bình Hoài Nam.

- Tôi có thể hỏi nhà phê bình Hoài Nam một câu thế này, anh có nói rằng đây là một trường luận thơ nhất trong những bài thơ của Tiến Thanh đã từng viết. Ở góc độ là nhà phê bình, anh thấy nó phản ánh chân dung của một người viết như thế nào, người viết đối thoại với đời sống hay anh ta chỉ đối thoại với cái tôi bản thể của mình?

+ Tôi nghĩ là có cả hai. Người viết, trước hết đối thoại với chính mình, độc thoại với bản thể, đồng thời, qua đó anh ta đối thoại với nhu cầu tình cảm, suy nghĩ của xã hội. Tôi xin trở lại với câu chuyện anh Tiến Thanh vừa nói, khi viết xong cuốn sách “Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết” anh như trút được gánh nặng nhưng thực ra là anh đang trút gánh nặng đó sang độc giả.

Tôi tin, người nào quan tâm đến thơ nói chung, khi đọc cuốn sách này đều nhận ra đây không phải là câu trả lời mang tính xác quyết về thơ là gì, thơ cần như thế nào trong đời sống, thơ có tác dụng gì hay thơ có còn tồn tại hay không? Cả cuốn sách này là một khối mâu thuẫn lớn, là sự dùng dằng bất quyết mà chỉ những người làm thơ mới hỏi như thế. Về cách viết, nó thơ hơn những bài thơ anh ấy làm là vì hình như anh ấy học được cách viết của triết gia Friedrich Nietzsche với lối viết không nặng tính hàn lâm, lý thuyết mà là hình ảnh và sự chảy tràn của cảm xúc thăng hoa.

- Theo tiến sĩ Đỗ Anh Vũ, dưới góc nhìn học thuật của anh, anh nhìn nhận thông điệp “Thơ không cứu được ai nhưng cứu người viết” như thế nào? Nó nói gì về quan niệm nghệ thuật của nhà thơ với con người và đời sống hôm nay?

+ Trước hết phải khẳng định rằng vì sao anh Tiến Thanh viết trường luận này, vì anh là một nhà thơ, nếu không phải nhà thơ thì không viết được như thế và người đọc cũng sẽ không tin những điều anh viết.

Tôi cho rằng đó là một quan điểm thú vị, tôi rất thích câu: “Nhà thơ không phải là người có thể viết ra những câu thơ mà là người không thể không viết ra những câu thơ”, nghĩa là việc sáng tác là sự thôi thúc tự thân nên những điều anh viết ra trước hết phải chân thật với chính mình.

Và bài thơ ấy có thể khiến người đọc rung động khi chạm vào sâu thẳm tâm hồn con người. Nhà thơ có thể viết về những gì mình trải nghiệm, suy tư, nhưng đi tận cùng của trải nghiệm cá nhân ấy sẽ gặp được một cộng đồng rộng lớn nếu những điều riêng tư, cá nhân ấy là thiên lương, là nhân bản, là tình yêu con người.

- Có phải những người làm thơ/ nhà thơ viết để giữ lại phần nhân bản của họ trong đời sống biến động này?

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Đúng vậy bởi tâm hồn nhà thơ rất nhạy cảm, họ luôn rung cảm trước những điều thiện lành, tốt đẹp của đời sống. Từ cuốn sách của anh Tiến Thanh, chúng ta có thể bàn rộng ra những vấn đề về thơ đương đại. Một bài thơ viết ra có thể không ai đọc, có thể gió sẽ cuốn đi, nó khác hoàn toàn với quan niệm truyền thống về sáng tác, bài thơ được viết ra là phải đi từ con chữ đến trái tim người đọc, người đọc thơ có thể quên tên nhà thơ chứ đừng để quên thơ. Nhà thơ truyền thống luôn mong muốn mình có độc giả. Nhưng anh Tiến Thanh đặt lại vấn đề khác, thơ có thể không có độc giả. Và nhà thơ viết, trước hết cho chính mình.

244754c7dbbf56e10fae.jpg -0
Nhà thơ Tiến Thanh.

+ Nhà thơ Tiến Thanh: Đấy không phải là một cách nói mà là sự tiên cảm và nỗi lo lắng trong thời đại hiện nay khi mọi người chỉ quan tâm đến những clip ngắn mấy giây, khi một vài status rất vớ vẩn vẫn nhận được hàng loạt share, like. Thơ trong dòng chảy của đời sống ấy sẽ như thế nào. Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết là một niềm kiêu hãnh của thơ, rằng tôi tin, thơ vẫn sẽ luôn tồn tại.

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Tôi cho rằng, nhà thơ đang viết với tâm thế có bạn đọc thì tốt, có càng nhiều bạn đọc càng tốt nhưng không có thì cũng không sao bởi thơ là sự trả lời với nội tâm của chính mình, của một người làm thơ. Trong cuộc đời, đôi khi chúng ta viết rất nhiều thứ nhưng chỉ có thơ và văn chương nói chung được viết bằng cảm xúc và sự thăng hoa. Và vì thế, thơ tồn tại.

- Nếu một ngày nào đó cộng đồng có thể cười nhạo các nhà thơ rằng, thơ có thể cứu ai được khi thơ không cứu được chính mình?

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Trong lịch sử nhân loại người ta luôn cười các nhà thơ. Ở nước Cộng hòa Plato, ông triết gia cổ đại Hy Lạp không chấp nhận nhà thơ trong đất nước lý tưởng của ông và bây giờ càng như thế vì xét lợi ích vật chất, thơ chẳng mang lại điều gì. Nhưng thơ vẫn ở đó, luôn tồn tại, hiện diện trong đời sống.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Tôi nhớ có câu chuyện kể rằng, ở nước Nga, có một bộ lạc hoang sơ nếu ai đó đọc những câu vần điệu giống thơ sẽ bị ném đá đến chết. Điều này có nghĩa rằng, thơ vẫn có thể bị coi thường, phủ nhận. Nhưng ở một góc độ khác, thơ luôn hiện diện và có giá trị. Một câu thơ hay khiến chúng ta run rẩy, một bài thơ xúc động có thể cứu rỗi linh hồn chúng ta. Thơ làm cho nỗi buồn vơi đi một nửa và niềm vui được cộng hưởng.

Khi chúng ta nhớ quê nhà, nhớ mẹ hiền và những người thân không còn nữa, thơ như một bàn tay vỗ về an ủi: “Cha mẹ đã thành ra cổ tích/ Cỏ nằm kể mãi dưới chân nhang”. Tại sao có 2 câu thơ hay như thế của Đỗ Trung Lai được nhà thơ Văn Chinh trân trọng khắc trong khu bia mộ gia tộc mình? Đó là minh chứng cho sự tồn tại của thơ.

- Tôi có một phản biện thế này, tôi không tin, trong cuộc sống hiện đại, chúng ta đang ăn những món ăn tin thần nhanh, gây nghiện khủng khiếp, thậm chí gây “thối não” thì thơ vẫn có giá trị. Hơn nữa thơ đang từ phục vụ cộng đồng về với hành trình bản thể, thì liệu người đọc hôm nay có tìm thấy chính họ trong thơ đương đại không, và thơ không còn có giá trị với cuộc sống nữa không?

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Tôi nghĩ, thơ luôn cần cho bạn đọc, thơ luôn có độc giả. Có thể bây giờ thơ ít được quan tâm hơn vì thơ xuất bản dễ dàng quá, thơ dở cũng nhiều. Nhưng nếu nhìn vào những tác giả xuất sắc vẫn có bạn đọc của họ như Nguyễn Thiên Ngân, Nguyễn Phong Việt, mỗi lần ra tập thơ bạn đọc xếp hàng dài xin chữ ký,… Tôi nghĩ, thơ hay vẫn có độc giả vì nó chạm đến cảm xúc của người đọc.

Những câu thơ của Nguyễn Thiên Ngân mà tôi gọi là lục bát tân cổ điển “Ẩn sau một vết thương lành/ Là mê cung gió hay thành quách mưa”, rất hay. Có những nhà thơ trong lịch sử thơ ca hiện đại gọi là nhà thơ điên nhưng vì sao những câu thơ của họ còn sống mãi với thời gian và gây ám ảnh đến thế. Hai câu thơ “Bây giờ riêng đối diện tôi/ Còn hai con mắt khóc người một con” của nhà thơ Bùi Giáng đã tạo cảm hứng cho Trịnh Công Sơn viết bài hát “Con mắt còn lại". Hay nhà thơ Phạm Phú Hải viết: “Giọt sương đậu mái lương đình/ Nửa đêm thức giấc hỏi mình tan chưa”. Những câu thơ khiến ta run rẩy tâm hồn và tôi tin lúc nào cũng có những người yêu thơ.

+ Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam: Tôi nghĩ, công chúng của thơ là chính mỗi người chúng ta. Công chúng của thơ không nằm ở số đông đứng ở quảng trường nghe thơ, những người ra hiệu sách mua thơ mà nằm ở những người thực sự quan tâm đến đời sống cá nhân của mình và nằm ở người viết. Nếu đọc cuốn sách này, tác giả không nói chuyện câu thơ này hay hay dở mà nói về sự cần thiết của thơ với mỗi người. Nó là ấn chứng cho cuộc đời của nhà thơ, cho việc họ đã từng sống và đang sống.

- Trong một lần phỏng vấn nhà thơ Vũ Quần Phương, ông nói rằng, công chúng rời bỏ thơ vì họ ngộ độc bởi thơ phế phẩm mà nguyên nhân chính là sự cấp phép in thơ tràn lan của các nhà xuất bản? Anh nghĩ sao về điều này?

do anh vu.jpg -0
Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Rất đúng vì việc cấp phép dễ dàng quá khiến thơ xuất bản ồ ạt. Thơ dở tràn lan khiến công chúng không còn muốn đọc thơ.

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Muốn ngộ độc thì chúng ta phải ăn thứ phế phẩm ấy chứ, nhưng ngày nay thực tế người ta không/rất ít đọc, nhiều người từ chối hoàn toàn việc đọc. Văn hóa đọc đang là vấn đề nóng của xã hội. Người yêu sách thực sự bao giờ cũng ít, bây giờ càng teo lại. Chúng ta đang sống trong thời đại đang cháy, mọi người có quá nhiều mối bận tâm. Nhưng thơ vẫn xuất hiện và cần thiết, dù không nhiều.

+ Nhà thơ Tiến Thanh: Tôi nghĩ, do bây giờ chúng ta ít có thơ hay. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng, các nhà thơ hiện nay kém. Nguyên nhân sâu xa là tất cả những thi ảnh, ngôn ngữ, sự liên tưởng hay ho các nhà thơ đã dùng rất nhiều. Thơ đương đại, về thi ảnh, ngôn ngữ nếu viết hay chưa đủ, phải khám phá cái mới, độc đáo. Làm thơ hay, hay mà mới, hay mà không bị so sánh với cái cũ rất khó. Tôi nghĩ, nếu thơ hay nó sẽ tồn tại. Chúng ta chấp nhận sự thật, viết là nhu cầu của mỗi người, thơ hay sẽ có bạn đọc và chúng ta cũng không cấm được thơ dở.

Thơ bây giờ sẽ đa hướng

- Vậy theo anh, trong xu thế hiện nay, liệu thơ có mất phương hướng không?

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Tôi không cho rằng thơ mất phương hướng mà thơ sẽ đa phương hướng. Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”, có một thời, tất cả nhìn về một hướng. Thời trung đại, thơ có chữ “trung”, “hiếu” trong đó, nó phục vụ lợi ích của vương triều. Thời cách mạng, thơ phục vụ kháng chiến và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, vì thế thơ quảng trường xuất hiện. Bây giờ chúng ta được nghe nhiều tiếng thơ khác nhau, thơ đa dạng và đa hướng, có thơ dị biệt chỉ dành cho số ít. Đó là xu thế tất yếu.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Khi chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng, có sự hỗ trợ đắc lực của Internet, khi việc giao lưu văn hóa, văn học giữa các quốc gia trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết thì tất yếu văn chương nói chung, thơ nói riêng càng có trăm phương nghìn hướng, muôn nẻo đường đi. Xu thế chung, mỗi người viết đều cố gắng tìm kiếm những gì mới mẻ, những con đường riêng, những thử nghiệm mới. Họ cũng kế thừa những tinh hoa, thành tựu, những giá trị được coi là kinh điển của lớp người đi trước. Vì thế, thơ không bao giờ mất phương hướng mà chỉ có nhiều phương hướng trở lên.

- Anh nhìn nhận thế nào về công chúng mới của thơ, những độc giả trẻ đọc thơ qua mạng xã hội, chia sẻ cảm xúc nhanh, ngắn, đó có phải là cứu cánh cho thơ đương đại không?

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Chúng ta phải thừa nhận rằng thời đại hôm nay là thời của đa phương tiện, của nghe nhìn, tương tác mạng xã hội. Và vì thế, sẽ có nhiều cách tiếp cận, truyền tải đến độc giả. Thơ cũng đa hướng nên độc giả sẽ tự lựa chọn hướng nào thôi.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Ở mọi thời kỳ đều có những lớp độc giả khác nhau. Những người trẻ là một khu vực trong số tổng thể các độc giả. Họ có thể không quan tâm nhiều đến thơ so với những thế hệ trước bởi ngày nay có quá nhiều thứ để giải trí. Chúng ta có thể nhìn vào danh sách hàng năm, các bạn trẻ đăng ký xét tuyển vào khoa Văn của các trường đại học ngày càng ít dần. Thế nhưng thơ hay vẫn có cách riêng để đi vào lòng người.

Mạng xã hội phát triển khiến bài thơ nhanh được mọi người biết tới hơn và nhà thơ nhận được rất sớm những tương tác từ độc giả. Điều ấy có thể cũng sẽ tạo nên những cảm xúc tốt cho người viết, được chia sẻ và động viên khích lệ, được gợi thêm cảm hứng để tiếp tục sáng tác. Và dĩ nhiên dùng mạng xã hội không chỉ có những người trẻ. Nhiều người trên Facebook của tôi ở tuổi U80 vẫn sử dụng mạng xã hội một cách thành thạo.

- Vậy giữa nhịp sống hiện đại, làm thế nào để thơ chạm vào độc giả, qua nền tảng số, hay qua câu chữ, qua lớp học?

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Tôi hơi cực đoan khi cho rằng, nền tảng số hay không không quan trọng, không quyết định việc thơ chạm đến trái tim con người. Thơ đến với chúng ta bằng nhiều con đường nhưng có chạm được vào trái tim chúng ta hay không còn phụ thuộc vào thẩm mỹ, văn hóa và trình độ của người đọc. Ta phải chấp nhận sự tồn tại của thơ trong sự xâm lấn của các phương tiện nghe nhìn hiện đại sẽ ít ỏi. Nhưng ở một góc nào đó, thơ vẫn luôn tồn tại.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Tôi nghĩ điều quan trọng là thơ phải thật hay. Thơ hay thì tự nhiên sẽ đi vào lòng người, được người đọc yêu mến, biết đến và thậm chí là thuộc lòng. Nền tảng số chỉ là phương tiện giúp tác phẩm được lan tỏa nhanh hơn mà thôi. Ngay cả khi nhà thơ không dùng mạng xã hội, nhưng nếu câu thơ, bài thơ của anh viết ra lay động lòng người, tất sẽ có những độc giả chia sẻ và lan tỏa tác phẩm của anh.

- Vậy điều cốt lõi mà thơ Việt đương đại cần giữ lại là gì, ngôn ngữ, cảm xúc hay sự trung thực?

+ Nhà phê bình Hoài Nam: Đó là ngôn ngữ là tiếng Việt - thứ ngôn ngữ giàu âm sắc, hình ảnh. Ngôn ngữ của thơ ca khác ngôn ngữ đời sống. Cụ Phan Ngọc nói, ngôn ngữ thơ ca thực chất là “ngôn ngữ đời sống bị vặn xoắn một cách quái dị”. Còn cảm xúc là điều đương nhiên. Ngôn từ cộng hưởng bởi cảm xúc mới làm nên thi ca. Đó là những cảm xúc chân thực, là tiếng nói của cõi lòng chân thành, tha thiết, không giả dối, không làm màu. Đó là thơ.

+ Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ: Muốn có thơ hay, điều đầu tiên tôi nghĩ là phải có cảm xúc chân thành. Cảm xúc chân thành cháy bỏng sẽ tự gọi ra câu chữ phù hợp để diễn tả tình ý của mình. Bài thơ muốn thành công thường phải có sự hội tụ của nhiều yếu tố. Sau cảm xúc đương nhiên là ngôn ngữ, chính là tài năng của tác giả. Bài thơ hay phải mang đến sự độc đáo, mới mẻ, không lặp lại của bất kỳ người đi trước nào. Nhiều người còn tin về một sự linh thiêng, tức là yếu tố tâm linh trong mỗi tác phẩm.

- Tôi muốn hỏi một câu cuối cho nhà thơ Tiến Thanh, tôi cho rằng, “Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết” là một tuyên ngôn vừa buồn vừa đẹp, vừa bi quan lại vừa hy vọng. Anh nghĩ sao?

+ Nhà thơ Tiến Thanh: Tôi nghĩ, không ai vui khi viết rằng cần phải cứu; không ai cứu người vui, người đang hạnh phúc. Riêng tôi, tôi quan niệm thơ phải đẹp, từ ngôn ngữ đến cảm xúc… Những câu thơ có cứu rỗi hay không cứu rỗi ai thì nó vẫn đẹp. Những câu thơ không thể cứu ai nghĩa là tôi vẫn hy vọng nó có thể cứu thế giới. Tôi viết xuất phát từ một niềm tuyệt vọng nhưng vẫn le lói những hy vọng về cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới. Bởi cái đẹp, tận cùng thường rất buồn. Cảm xúc đẹp để gợi người viết sáng tạo rất buồn.

- Cảm ơn cuộc đối thoại của nhà thơ Tiến Thanh, nhà phê bình Hoài Nam và Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ.

Như Bình - Việt Hà (thực hiện)

Các tin khác

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

Sau một tuần tranh giải căng thẳng, cuối tuần qua, “Fjord” của nhà làm phim Romania Cristian Mungiu đã chính thức trở thành tác phẩm tiếp theo đoạt giải Cành cọ vàng danh giá tại LHP Cannes 2026. Càng đặc biệt hơn khi đây không phải thành công riêng lẻ, mà qua đó cho thấy chuỗi thành tích đặc biệt của đạo diễn này, nữ diễn viên chính Renate Reinsve lẫn nhà phân phối phim NEON.