Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Phản ánh chiều sâu trí tuệ

Nhưng ghi chép trên mặt đá và những nguyên liệu khác có nhiều hạn chế và họ đã tìm tới loại lá cây đặc biệt để viết chữ, đó chính là lá buông, tiếng Khmer gọi là lá T'răn. Cây lá buông giống như cây thốt nốt, trước đây mọc nhiều trên núi và rừng, khắp Nam Bộ. Cây có tuổi đời khoảng 70 năm. Sách lá buông từng phổ biến trong các trường học Khmer trước đây cho tới khi sách giấy ra đời thay thế. Sách có ưu điểm là có tuổi đời lâu hơn nhiều so với sách giấy. Khi sử dụng lá, người ta chặt đọt lá non, rồi trải qua rất nhiều công đoạn như hơ lửa, phơi nắng, phơi sương, kẹp lại sợi lá cho nó có độ phẳng. Phải đầy đủ công đoạn mới hoàn thiện việc đánh hàng chữ, khắc chữ.

sach-la-3.jpg
Hòa thượng Chau Ty truyền dạy kỹ thuật khắc chữ trên lá cho học trò.

Sách lá buông cổ xưa ở nhiều ngôi chùa Khmer Nam Bộ có tuổi đời 400 năm, gần đây nhất cũng nửa thế kỷ. Sách là một phần đặc biệt trong đời sống văn hóa - tinh thần của người Khmer Nam Bộ, nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa đọc của người Việt Nam, nhất là ở khu vực miền Tây. Thống kê của Sở Nội vụ tỉnh An Giang cho thấy, tỉnh còn khoảng 170 bộ kinh lá buông với trên 900 quyển, nằm rải rác tại một số ngôi chùa Khmer lớn thuộc 2 địa bàn Tri Tôn và Tịnh Biên. Những bộ kinh này có tuổi đời khoảng trên dưới 120 năm, hầu hết viết bằng chữ Pali và chữ Khmer cổ. Đặc biệt, năm 2006, chùa Xvay Ton (Tri Tôn) được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục "Ngôi chùa lưu giữ nhiều bộ kinh lá nhất Việt Nam".

Tọa lạc tại phường Nguyệt Hóa - tỉnh Vĩnh Long, chùa Samrong Ek không chỉ là điểm tựa tâm linh mà còn là một trung tâm di sản văn hóa đặc biệt của đồng bào Khmer Nam Bộ. Nơi đây đang lưu giữ một khối lượng đồ sộ các thư tịch cổ - Satra lá buông: Satra rương (kinh lá buông viết truyện), Satra lbeng (kinh lá buông viết về hội hè, trò chơi dân gian), Satra chbăp (kinh lá buông viết về lời giáo huấn), Satra thês (kinh lá buông viết về Phật thoại, kinh Phật dùng để thuyết giảng kinh kệ Phật giáo).

Theo Thượng tọa Kim Huân - Phó trụ trì chùa Samrong Ek, những bộ Satra này không chỉ ghi chép giáo lý Phật giáo mà còn chứa đựng kho tàng truyện tiền thân, luật tục, truyện dân gian và những bài học đạo đức, phản ánh chiều sâu trí tuệ của cả một cộng đồng, góp phần hình thành không gian đọc mang tính cộng đồng. Tấm lá buông loại nhỏ nên mỗi lá chỉ viết được khoảng 5 hàng, mỗi hàng chừng 20 chữ. Chính vì thế, người viết phải biết cách thể hiện nội dung như thế nào cho súc tích, gói gọn trong khuôn khổ tấm lá. Có khi một nội dung được viết đến 5, 7 hoặc 10 tấm lá. Khâu kết những tấm lá thành một quyển kinh cũng rất công phu.

Bắt đầu học khắc chữ trên lá buông từ năm 24 tuổi, Hòa thượng Chau Ty (84 tuổi), Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Soài So (ở Núi Tô, xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) - là người duy nhất ở An Giang nắm giữ kỹ thuật viết chữ trên lá buông và là truyền nhân đời thứ 9 của sãi cả chùa Xvay Ton. Hòa thượng đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015 và danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân năm 2019 vì có nhiều cống hiến xuất sắc trong giữ gìn và phát huy di sản văn hóa cũng như di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Hòa thượng đã khẳng định, ông cha xưa đã tận dụng dùng lá buông để viết, khắc chữ, trong đó có những bộ kinh pháp về nguồn gốc, lịch sử của Đức Phật.

Di sản vô giá

sach-la-1.jpg
Sách lá buông rất đặc biệt trong đời sống văn hóa - tinh thần người Khmer Nam Bộ.

Việc xử lý lá để khắc chữ đã khó, kỹ thuật viết kinh lên lá lại được coi là giai đoạn kỳ công nhất. Trong quá trình viết, nếu sai một chữ là hư toàn bộ lá kinh đó, phải viết lại từ đầu. Người Khmer gọi việc ghi chép trên lá buông là "char" nghĩa đúng nhất là "khắc".

Với hàng ngàn quyển sách viết bằng tiếng Pali, tiếng Khmer cổ trên lá và lá buông sưu tầm được, Hòa thượng Lý Hùng - Ủy viên hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pitu Khôsa Răngsây (ở phường Ninh Kiều - TP. Cần Thơ) khẳng định việc viết kinh, mẩu chuyện trên lá buông không đơn thuần là sao chép lại văn bản đã có, mà người viết phải hiểu và đọc được loại chữ Pali, chữ Khmer cổ, với nhiều nét viết rất khó; đồng thời phải có kiến thức về đạo lý Phật giáo để lựa chọn ra những lời dạy của Đức Phật phù hợp với nhận thức của cộng đồng. Hòa thượng cho biết, tính đến nay, ông đã sưu tầm trên 4.000 quyển sách, trong đó có 30 quyển hàng trăm năm tuổi viết bằng tiếng Pali, tiếng Khmer cổ trên lá và lá buông.

sach-la-5.jpg
Nhiều cuốn sách theo thời gian bị hư hỏng, mai một.

Hòa thượng Chau Ty khẳng định, các văn bản Satra cổ chứa đựng nhiều giá trị cao quý, thiêng liêng liên quan đến dân tộc Khmer, Phật giáo Nam Tông Khmer và tiến trình văn hóa Khmer. Đồng hành giữ gìn sách cổ với chùa Pitu Khôsa Răngsây, còn có chùa Mahatup (chùa Dơi), ở phường Phú Lợi - TP. Cần Thơ (tỉnh Sóc Trăng cũ). Tuy không nhiều, nhưng kinh lá buông ở chùa vẫn được các sư sãi nỗ lực cất giữ nguyên vẹn từng trang. Đại đức Thạch Sa Quanh, chùa Mahatup cho biết, đây là loại kinh cổ mà các sư nói riêng, người Khmer Nam Bộ nói chung xem như báu vật. Kinh lá buông rất có giá trị đối với đồng bào Khmer, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hóa, văn học.

Mong muốn của Hòa thượng Chau Ty về việc bảo tồn Sách lá buông cũng là niềm mong mỏi chung của cộng đồng dân tộc Khmer. Bởi hầu hết kinh lá buông được gìn giữ, bảo quản tại các chùa với phương thức đơn giản như dùng vải quấn hoặc bỏ tủ kính. Trải qua thời gian, những bộ sách lá buông đang phải đối mặt với nguy cơ hư hỏng do tác động của môi trường nóng ẩm. Đặc biệt, kỹ thuật viết chữ trên lá buông đang dần bị mai một. Hiện nay, cây lá buông còn rất ít ở Nam Bộ, lá cây cũng không đủ tiêu chuẩn làm sách, nên phải nhập ở các nước khác về, người theo học chữ ngày càng ít do không có thu nhập, có người yêu thích viết chữ lá buông, nhưng không nhập tâm, không kiên nhẫn, nên chỉ vài buổi là bỏ cuộc…

Nhằm bảo tồn và lưu truyền cho thế hệ sau những giá trị đặc sắc kinh lá buông, tỉnh An Giang đã phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer tỉnh An Giang" đến năm 2030. Nhận định đây là nét văn hóa độc đáo và là sản phẩm vô giá trong tôn giáo Nam tông Khmer, năm 2017, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận "Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer" là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Đông Nguyễn - Hồng Phương

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.