Điển cố như một thi pháp

Bất cứ một nền văn học, một giai đoạn, thậm chí một tác giả lớn cũng đều có một hệ thống thi pháp tức những nguyên tắc kiến tạo nên thế giới nghệ thuật. Nằm trong mỹ học “Thuật nhi bất tác” (kể lại mà không sáng tác mới) cổ điển phương Đông nên văn học trung đại Việt Nam vừa tuân theo vừa “lách luật” để tạo ra cuộc vượt thoát ngoạn mục là dùng “điển cổ”.

Trước đây khi phân tích thơ văn cổ nhiều người sa vào trạng thái cực đoan cho những tác phẩm dùng điển cố văn học là sùng ngoại, sùng cổ. Ví như nhận xét “Hịch tướng sĩ” có hạn chế là lấy quá nhiều tấm gương lịch sử Trung Quốc. Ngày nay triết học văn hóa quan niệm gần như ngược lại, tác phẩm ví như cây xanh cường tráng mạnh mẽ là nhờ cắm sâu vào mảnh đất văn hóa dân tộc và nhân loại mà điển cố chỉ là một nhánh rễ. Xin chứng minh qua một vài tác phẩm thế kỷ XV, thời kỳ hưng thịnh của văn hóa quá khứ.

Nguyễn Trãi (1380-1442). Anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi (1380-1442). Anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới

Thơ Nguyễn Trãi mang tầm nhân loại và dày đặc điển cố. Trong một bài thơ chữ Hán, có hai câu đậm tính triết lý: “Muốn học chim phượng thấy sáng hót đón mặt trời/ Cuối cùng phải làm chim hồng tránh tên để lánh hại”. Bài thơ này làm trong thời kỳ Ức Trai đang làm quan nhưng chán nản muốn xin về nghỉ. 

Câu đầu lấy điển tích Lý Thiện Cẩm, quan Ngự sử đời Đường dâng sớ can vua không xây cung điện xa hoa, được người đời khen là “minh dương phượng” (chim phượng thấy sáng hót đón mặt trời). Câu sau dựa vào tích “xa tung” vì sợ tên bắn mà chim hồng phải bay cao lên. Đó là cách mỉa kín đáo: Triều đình bây giờ đầy tên nhọn, nên (ta) như chim hồng lánh nạn. Mỹ học châm biếm nho gia thâm trầm, kín đáo, chua chát, cay đắng, sâu sắc mà Nguyễn Trãi là đại diện rất tiêu biểu.

Nguyễn Trãi có lúc buông xuôi. Ông chua chát buồn mà giễu đời, giễu mình dù có tài năng, có vì dân, vì nước mà lo nghĩ thì rồi cũng chỉ như loài chồn chung một gò (trong “Mạn hứng II”). 

Bài này có câu: “Mắt hoa hươu lá ngờ mơ thấy” là vận dụng điển tích “mắt hoa” (ảo nhãn) và “hươu lộc” lấy từ sách “Liệt tử” kể người nước Trịnh kiếm củi bắt được con hươu lộc chết bèn giấu đi lấy lá chuối đậy lại rồi quên mất chỗ giấu lại cứ tưởng mình chiêm bao. Câu “Cốc Tang thọ yểu đừng bàn nữa” được lấy từ sách “Trang Tử” kể hai người chăn dê cùng bị mất dê, trong khi Tang mải miết tìm dê mà vẫn đọc sách thì Cốc cứ chơi bài. Cuối cùng cả hai đều chết. Ý nói kẻ chăm người lười rồi cũng đều như nhau cả...

Sự đời thật nhiễu nhương nên Ức Trai quyết “Đem công danh đổi lấy cần câu” (Ngôn chí 8). “Công danh” thì nặng, “cần câu” thì nhẹ, thế mà quyết đổi vì ông quá hiểu sự thế, tình người đen bạc, đổi để mà yên thân. “Phú quý bao nhiêu người thế gian/ Mơ mơ bằng thuở giấc Hòe-an/ Danh thơm một áng mây nổi…” (Thuật hứng 18). Điển tích “giấc Hòe-an” có ở sách “Nam Kha ký” (đời Đường) kể câu chuyện Thuần Vu Phần uống rượu dưới gốc hòe ngủ quên mơ thấy đến nước Hòe-an được lấy công chúa và làm thái thú quận Nam Kha. Tỉnh dậy nhìn thấy bầy kiến dàn quân giống như trong mơ. Nguyễn Trãi lấy tích này để nói: Phú quý cũng như giấc mộng mà thôi. Câu tiếp theo nói rõ hơn ý này: Danh thơm cũng chỉ như áng mây nổi. 

Ở bài khác ông nhắc lại qua một hình tượng khác: “Phú quý treo sương ngọn cỏ/ Công danh gửi kiến cành hòe/ Phong lưu mòn mỏi ba đường cúc/ Ngày tháng tiêu ma một bát chè” (Tự thán 3). Công danh phú quý đều mong manh, phong lưu cũng chẳng có gì đáng giá, thời gian thì trôi nhanh. Chúng ta dễ thấy một chủ thể với tâm trạng chua chát ẩn trong tiếng cười chua chát. Con người thi sỹ Nguyễn Trãi rất nhạy cảm với chất bi hài kịch của cuộc đời. 

Cũng có lúc ông tiếc nuối: "Chĩnh vàng chẳng tiếc danh thì tiếc/ Bia đá hay mòn nghĩa chẳng mòn” (Tự thán 17). Mượn tích Phạm Trọng Yêm đời Tống khi trọ học ở chùa ra vườn đào được cái chĩnh vàng bèn lấp đi vì sợ mang tiếng tham. Thì ra không phải Nguyễn Trãi tham danh lợi mà tiếc không đủ danh để giúp dân giúp đời nhiều hơn! Muốn giúp được người cũng phải có uy danh, uy tín, thế lực. Thời nào cũng thế!

Vương Chiêu Quân.
Vương Chiêu Quân.

Ngày nay, nhiều nước có khoa “Việt Nam học” người ta học nhiều nhất là Hồ Chí Minh sau là Nguyễn Trãi, trong đó họ coi “điển cố” như cái chìa khóa để mở thông ra những thế giới văn hóa khác. Vì vậy nghiên cứu về Nguyễn Trãi không chỉ hiểu Nguyễn Trãi mà còn hiểu thêm nhiều những điểm sáng mang tính kết tinh của văn hóa. Điển cố làm thơ Nguyễn Trãi sâu sắc, hàm súc, đa nghĩa hơn.

Tác giả Lê Thúc Hiển có bài phú “Đề miều bốn người nổi tiếng” dựa vào tích đời Hán có bốn người tài không chịu làm quan, mãi sau nhờ Trương Lương thuyết phục họ ra sức giúp đời: “Đất Tần có hang hố sâu khiến chim hồng phải lìa xa/ Sân Hán đắm chìm nhiều làm chim phượng phải bay cao/ Nếu sớm biết sự đời là lợn/ Bất vị Lưu hầu mà bứt một sợi lông”. 

“Hang hố sâu” gợi tích Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn nho. “Sân Hán đắm chìm” chỉ việc Hán Cao tổ thống nhất thiên hạ nhưng mê đắm sắc dục nên để lại hậu họa ngập trời. “Sự đời là lợn” chỉ việc Lữ Thái hậu, vợ (chính) Hán Cao tổ trả thù Thích cơ phu nhân (được Hán Cao tổ yêu) bằng cách chặt chân tay, bắt uống thuốc câm, cho ở trong chuồng lợn. Câu cuối là  tích “bạt nhất mao” (mất một sợi lông chân) kể Dương Chu (thời Tiền Hán) theo phái vị kỷ làm quan “cha mẹ dân” nhưng không muốn mất một sợi lông chân vì thiên hạ. Đặt trong kết cấu bài phú, nếu không có các tích này thì sự kể ra bốn vị anh hào kia sẽ rất nhạt vì không có “nền”!

Nước Sở thời nhà Chu có Biện Hoà bắt được viên ngọc quý liền dâng lên vua Lệ Vương, vua cho là ngọc giả bèn chặt chân trái. Lại đợi dâng vua Vũ Vương liền bị chặt chân phải. Phải đến lần ba dâng tới vua Văn Vương mới được coi là ngọc thật. Dựa vào tích này tác giả Nguyễn Phu Tiên trong bài “Phú ngọc lành đợi giá” mỉa mai những kẻ xu nịnh sẵn sàng hy sinh cả thân thể mình cho “vua”. Còn là cái ý ngọc quý phải vào tay người biết dùng, nếu không có thể chết người. Lại có điển tích Tương Như nước Triệu đem ngọc quý sang Tần đổi lấy thành trì, thấy Tần tráo trở liền tìm cách đem ngọc về. Ý nghĩa cả hai tích mang tính giáo huấn: Niềm tin còn quý giá hơn cả vàng ngọc!

Khác với nhiều nhà thơ còn tư tưởng hoài tiếc nhà Trần không chịu hưởng ứng chiếu Kêu gọi hiền tài của Lê Thái tổ, Nguyễn Thiên Túng làm “Phú gà gáy sáng” để “thuyết phục”. Có câu: “Tiếng kêu Tử Giao/ Tiếng cười trung nghĩa/ Giọng hót Triệu Cao/ Giọng người xu mỵ/ Hiền ác rủ rê/ Hoặc cười hoặc bỉ/ Thói đời đen bạc, há đáng bĩu môi/ Cơ hội nghìn năm/ Gặp đời thịnh trị”. 

Thời Tống có Tử Giao là người “trung nghĩa”, còn Triệu Cao nổi tiếng nịnh hót. Thừa tướng Cửu Trụ đi chơi nói cảnh đẹp thật, chỉ tiếc thiếu tiếng chó sủa, gà gáy. Lát sau có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy trong bụi cây. Thì ra đó là tiếng Triệu Cao bắt chước. 

Chỉ nhờ tích này mới tạo ra sự đồng cảm tác giả - bạn đọc, kích gợi một quan niệm nhân sinh quân tử để nói được cái ý các nhà thơ nên làm thơ (tiếng kêu) như Tử Giao trung nghĩa chứ đừng có “giọng hót” Triệu Cao xu nịnh. Đời này (Lê Lợi) là “đời thịnh trị” nên phải coi đây là “cơ hội nghìn năm” dùng tiếng thơ xây dựng cuộc đời mới.

Không phải bây giờ mà thời nào cũng có nạn hối lộ. Tác giả “Hồng Đức quốc âm thi tập” vạch trần đích đáng nạn này qua một điển tích: “Năm nghìn mặt mạc treo thành dãy/ Diên Thọ oan chi phụ họ Vương/ Lạt phấn há rằng đeo phận bạc/ Phai son vì nỗi kém đồng vàng/ Đường đột Tây Thi là đáng tội/ Kìa ai vẽ rắn sự còn gương” (Diên Thọ vẽ tranh). 

Diên Thọ họ Mao đời Hán có tài vẽ truyền thần. Có quá nhiều cung nhân nhà vua không biết mặt liền sai Diên Thọ vẽ tranh (năm nghìn mặt) treo thành dãy để biết mà triệu đến hầu. Nhiều cung nhân hối lộ Diên Thọ vẽ đẹp hơn. Riêng “họ Vương”, tức Vương Tường (sau có tên Vương Chiêu Quân được coi là một trong “tứ đại mỹ nhân” nước Trung Hoa cổ) vì đẹp và thẳng thắn không cho tiền liền bị Diên Thọ vẽ xấu đi nên không được gặp vua lần nào. Việc bại lộ Diên Thọ bị xử trảm. 

Bài thơ khẳng định chân lý về sự thật: “Ngọc gieo xó tối khôn ngăn sáng/ Lan ỉu hang sâu cũng tỏ hương”. Nếu đó đích thực là một giá trị, thì như ngọc trong xó tối vẫn tỏa sáng, (hoa) lan dù bị để ỉu (ỉu xìu) trong hang sẽ vẫn tỏa hương. Còn kẻ nào “vẽ rắn thêm chân” vì mục đích cá nhân mà làm sai bản chất sự vật, cuối cùng cũng bại lộ và phải chịu hậu quả cao nhất.

Bất cứ một nền văn học, một giai đoạn, thậm chí một tác giả lớn cũng đều có một hệ thống thi pháp tức những nguyên tắc kiến tạo nên thế giới nghệ thuật. Nằm trong mỹ học “Thuật nhi bất tác” (kể lại mà không sáng tác mới) cổ điển phương Đông nên văn học trung đại Việt Nam vừa tuân theo vừa “lách luật” để tạo ra cuộc vượt thoát ngoạn mục là dùng “điển cổ”. Bài viết chỉ một phần nhỏ chứng minh!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.