Khi đánh giá về cái hay của các nhà thơ đương đại, một số ý kiến phê bình cho rằng thơ của họ giàu chất thơ tinh túy làm nên vẻ đẹp của thơ ca, làm cho hiện thực trở nên giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu suy tưởng và có sức lay động tâm hồn người đọc. “Vậy, chất thơ này có những đặc điểm gì?” là câu hỏi mà một số bạn yêu thơ đặt ra. Theo tôi, chất thơ là cái làm cho một câu chữ bình thường vượt lên khỏi nghĩa thông báo thông thường để trở thành nghệ thuật. Đặc điểm đầu tiên của chất thơ là cảm xúc. Không có cảm xúc, ngôn từ dù khéo léo cũng chỉ là kỹ thuật. Chất thơ làm cho người đọc cảm thấy có một dòng xúc động thầm kín chảy dưới câu chữ. Thơ không nói bằng khái niệm khô cứng mà thường nói bằng hình ảnh. Một đặc điểm quan trọng của chất thơ là khả năng tạo ra những hình ảnh vừa cụ thể vừa có sức gợi rộng.
Chất thơ đặc biệt trong thơ Hữu Thỉnh
Nhạc điệu là linh hồn của thơ. Chất thơ thường được tạo nên bởi nhịp câu, âm thanh, sự ngân vang của từ ngữ. Nhạc điệu không nhất thiết phải có vần. Thơ hiện đại, thơ tự do, trường ca nhiều khi không vần rõ, nhưng vẫn có nhạc tính. Đó là nhạc của hơi thở, của cảm xúc, của suy tưởng, của dòng ký ức. Chất thơ không có nghĩa là né tránh hiện thực hay làm cho mọi thứ trở nên ngọt ngào. Ngược lại, chất thơ có thể xuất hiện ngay trong đau khổ, chiến tranh, mất mát, nghèo đói, cô đơn. Điều quan trọng là nó giúp người đọc nhìn thấy trong hiện thực ấy một chiều sâu nhân bản, một vẻ đẹp tinh thần. Một đặc điểm quan trọng khác của chất thơ là “nói ít gợi nhiều”. Một câu thơ hay thường chứa nhiều tầng ý nghĩa trong một số chữ ít ỏi khi tính hàm súc làm cho thơ có dư âm. Đây chính là sức ngân vang của chất thơ
Trong nền thơ Việt Nam hiện đại, Hữu Thỉnh là một gương mặt thơ có giọng điệu riêng, đằm sâu mà không nặng nề, giàu suy tưởng mà không khô cứng, trữ tình mà không sa vào mềm yếu. Ở thơ Hữu Thỉnh, chất thơ không ồn ào, không trang sức cầu kỳ, cũng không dựa vào cảm xúc dạt dào kiểu lãng mạn tiền chiến. Chất thơ của ông thường đi vào người đọc bằng một giọng trầm, bằng những câu thơ tưởng như nói thường nhưng lại chứa nhiều dư ba. Đó là thứ thơ được chưng cất từ trải nghiệm chiến tranh, từ ký ức làng quê, từ tình mẫu tử, từ nỗi đau nhân thế và từ ý thức sâu sắc về Tổ quốc.
Trước hết, chất thơ trong thơ Hữu Thỉnh nổi bật ở khả năng phát hiện vẻ đẹp và nỗi buồn trong những điều bình thường nhất. Câu thơ: “Mẹ ơi mây héo con xin mẹ/ Cho con lên an ủi mặt trăng buồn” mở ra một liên tưởng vừa hồn nhiên vừa lạ lẫm. Thiên nhiên ở đây được nhân hóa không theo lối trang trí, mà như một phần của tâm trạng con người. Ở Hữu Thỉnh, những hình ảnh đời thường thường được đặt vào những quan hệ bất ngờ: “Chợ tan đường cũng tan như chợ/ Bán được buồn hay mua được buồn hơn”. Chợ là nơi mua bán vật chất, nhưng trong câu thơ này, cái được đem ra trao đổi lại là nỗi buồn. Chất thơ ở đây chính là sự chuyển hóa của thực tại: từ chợ, đường, mua bán, nhà thơ dẫn người đọc tới một suy nghiệm về thân phận.
Một đặc điểm đáng chú ý trong thơ Hữu Thỉnh là ông thường dùng những câu thơ rất ngắn, rất cô đọng nhưng chứa độ mở lớn. Câu “Ta vay bóng mát mà không trả/ Trời hiểu vì sao lại mất mùa” không giải thích trực tiếp một điều gì, nhưng gợi ra cả một quan hệ đạo lý giữa con người và thiên nhiên. Đằng sau câu thơ là cảm thức nhân quả, là lời nhắc về sự vô ơn, về sự thiếu hài hòa giữa con người với môi trường sống.
Không tách chất thơ ra khỏi đời sống
Cái tinh tế của Hữu Thỉnh là ông không tách chất thơ khỏi đời sống đau khổ. Trái lại, thơ đối với ông là một cách đứng về phía những người bị khuất lấp, trước hết là người mẹ. Hình ảnh người mẹ không được miêu tả bằng những lời tán tụng lớn lao. Mẹ là người chịu đựng, hy sinh, lặng lẽ đứng sau miếng cơm manh áo, sau những cuộc đời con cái. “Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi/ Sự vô tình che khuất mẹ”, hai câu thơ này có sức khái quát rất lớn. Mẹ không chỉ bị che khuất bởi nghèo khó, mà còn bị che khuất bởi chính sự vô tình của những người được mẹ yêu thương
Đặc biệt, câu thơ “Nhưng con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ” cho thấy quan niệm sâu sắc của Hữu Thỉnh về thơ. Đó là vũ khí của tình thương, ký ức, lương tri và chữ nghĩa. Câu thơ cho thấy một nghịch lý cảm động: niềm vui không làm con người quên đi nỗi đau, trái lại, nếu có một tâm hồn sâu sắc, niềm vui còn khiến ta thấm thía hơn những hy sinh âm thầm phía sau mình.
Một mạch thơ lớn khác của Hữu Thỉnh là mạch thơ về biển đảo, chủ quyền và người lính. Câu thơ “Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình/ Đảo có lính cát non thành Tổ quốc” là một phát hiện rất Hữu Thỉnh. Đảo ban đầu chỉ là cát non, là thiên nhiên hoang sơ, nhỏ bé. Nhưng, khi có người lính hiện diện, có sự hy sinh, có mốc chủ quyền, cát ấy trở thành Tổ quốc. Hữu Thỉnh có khả năng làm cho lịch sử và chủ quyền hiện ra qua thân thể cụ thể của người lính. “Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc” là một hình ảnh rất đắt. Đất nước không còn là khái niệm trừu tượng. Nó được “đánh vần” bằng bước chân, bằng mồ hôi, bằng sự chạm vào của thân người.
Nếu trong thơ biển đảo, Hữu Thỉnh thường đạt tới vẻ đẹp sử thi trữ tình, thì trong bài “Nghe tiếng cuốc kêu”, ông lại đưa người đọc vào một không gian ký ức thăm thẳm của làng quê, gia đình, chiến tranh và thân phận. Tiếng cuốc trong bài thơ là một âm thanh ám ảnh. Nó không chỉ là tiếng chim gọi hè, mà là tiếng gọi của quá khứ, của mất mát, của những nỗi buồn chưa được hóa giải. Hữu Thỉnh có biệt tài làm cho đồ vật cũ mang linh hồn. “Cha tôi cầm chiếc chén lên/ Như cầm một phần đời mình/ Đã khô ra thành đất”, đây là một liên tưởng vừa cụ thể vừa đau. Chiếc chén đất không chỉ là vật dụng; nó là kết tinh của lao động, của đời người, của sự khô cằn và chịu đựng. Đời cha như đã ngấm vào đất, khô lại trong chiếc chén.
Chất thơ Hữu Thỉnh nằm ở giọng điệu trữ tình suy tưởng. Thơ ông ít khi chỉ dừng ở cảm xúc trực tiếp. Từ cảm xúc, ông thường đi đến một suy nghĩ về đời sống. Từ nỗi nhớ mẹ, ông nghĩ về sự vô tình của con người. Từ cát đảo, ông nghĩ về Tổ quốc và hy sinh. Từ tiếng cuốc, ông nghĩ về chiến tranh, hậu chiến, cái chết và hư danh. Nếu chỉ có cảm xúc, thơ dễ trôi đi, nếu chỉ có suy tưởng, thơ dễ khô. Hữu Thỉnh giữ được sự cân bằng: suy tưởng của ông luôn được nâng đỡ bởi hình ảnh và nhịp cảm xúc.
Thơ Hữu Thỉnh có khả năng kết hợp chất dân gian, chất đời thường và chất hiện đại. Có thể nói, chất thơ đặc biệt của Hữu Thỉnh là chất thơ của sự lắng sâu. Đó không phải thứ thơ lấp lánh trên bề mặt, mà là thơ của những lớp phù sa ký ức, những âm thanh xa vọng. Thơ ông giàu cảm xúc nhưng không dễ dãi, giàu suy tưởng nhưng không khô khan, giàu liên tưởng nhưng vẫn bám chặt vào đất, vào người, vào đời sống Việt Nam.