Nhà thơ Hữu Thỉnh Chất thơ trong thi ca đương đại

bia-dt-2.jpg

Khi đánh giá về cái hay của các nhà thơ đương đại, một số ý kiến phê bình cho rằng thơ của họ giàu chất thơ tinh túy làm nên vẻ đẹp của thơ ca, làm cho hiện thực trở nên giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu suy tưởng và có sức lay động tâm hồn người đọc. “Vậy, chất thơ này có những đặc điểm gì?” là câu hỏi mà một số bạn yêu thơ đặt ra. Theo tôi, chất thơ là cái làm cho một câu chữ bình thường vượt lên khỏi nghĩa thông báo thông thường để trở thành nghệ thuật. Đặc điểm đầu tiên của chất thơ là cảm xúc. Không có cảm xúc, ngôn từ dù khéo léo cũng chỉ là kỹ thuật. Chất thơ làm cho người đọc cảm thấy có một dòng xúc động thầm kín chảy dưới câu chữ. Thơ không nói bằng khái niệm khô cứng mà thường nói bằng hình ảnh. Một đặc điểm quan trọng của chất thơ là khả năng tạo ra những hình ảnh vừa cụ thể vừa có sức gợi rộng.

2aoboqadthbn4kq7xuvrd6mhhry6glglwsc0ry88.jpg
Nhà thơ Hữu Thỉnh.

Chất thơ đặc biệt trong thơ Hữu Thỉnh

Nhạc điệu là linh hồn của thơ. Chất thơ thường được tạo nên bởi nhịp câu, âm thanh, sự ngân vang của từ ngữ. Nhạc điệu không nhất thiết phải có vần. Thơ hiện đại, thơ tự do, trường ca nhiều khi không vần rõ, nhưng vẫn có nhạc tính. Đó là nhạc của hơi thở, của cảm xúc, của suy tưởng, của dòng ký ức. Chất thơ không có nghĩa là né tránh hiện thực hay làm cho mọi thứ trở nên ngọt ngào. Ngược lại, chất thơ có thể xuất hiện ngay trong đau khổ, chiến tranh, mất mát, nghèo đói, cô đơn. Điều quan trọng là nó giúp người đọc nhìn thấy trong hiện thực ấy một chiều sâu nhân bản, một vẻ đẹp tinh thần. Một đặc điểm quan trọng khác của chất thơ là “nói ít gợi nhiều”. Một câu thơ hay thường chứa nhiều tầng ý nghĩa trong một số chữ ít ỏi khi tính hàm súc làm cho thơ có dư âm. Đây chính là sức ngân vang của chất thơ

Trong nền thơ Việt Nam hiện đại, Hữu Thỉnh là một gương mặt thơ có giọng điệu riêng, đằm sâu mà không nặng nề, giàu suy tưởng mà không khô cứng, trữ tình mà không sa vào mềm yếu. Ở thơ Hữu Thỉnh, chất thơ không ồn ào, không trang sức cầu kỳ, cũng không dựa vào cảm xúc dạt dào kiểu lãng mạn tiền chiến. Chất thơ của ông thường đi vào người đọc bằng một giọng trầm, bằng những câu thơ tưởng như nói thường nhưng lại chứa nhiều dư ba. Đó là thứ thơ được chưng cất từ trải nghiệm chiến tranh, từ ký ức làng quê, từ tình mẫu tử, từ nỗi đau nhân thế và từ ý thức sâu sắc về Tổ quốc.

Trước hết, chất thơ trong thơ Hữu Thỉnh nổi bật ở khả năng phát hiện vẻ đẹp và nỗi buồn trong những điều bình thường nhất. Câu thơ: “Mẹ ơi mây héo con xin mẹ/ Cho con lên an ủi mặt trăng buồn” mở ra một liên tưởng vừa hồn nhiên vừa lạ lẫm. Thiên nhiên ở đây được nhân hóa không theo lối trang trí, mà như một phần của tâm trạng con người. Ở Hữu Thỉnh, những hình ảnh đời thường thường được đặt vào những quan hệ bất ngờ: “Chợ tan đường cũng tan như chợ/ Bán được buồn hay mua được buồn hơn”. Chợ là nơi mua bán vật chất, nhưng trong câu thơ này, cái được đem ra trao đổi lại là nỗi buồn. Chất thơ ở đây chính là sự chuyển hóa của thực tại: từ chợ, đường, mua bán, nhà thơ dẫn người đọc tới một suy nghiệm về thân phận.

Một đặc điểm đáng chú ý trong thơ Hữu Thỉnh là ông thường dùng những câu thơ rất ngắn, rất cô đọng nhưng chứa độ mở lớn. Câu “Ta vay bóng mát mà không trả/ Trời hiểu vì sao lại mất mùa” không giải thích trực tiếp một điều gì, nhưng gợi ra cả một quan hệ đạo lý giữa con người và thiên nhiên. Đằng sau câu thơ là cảm thức nhân quả, là lời nhắc về sự vô ơn, về sự thiếu hài hòa giữa con người với môi trường sống.

2aoboqaecoyhvvkhb9r9rk9bz2ynuhavkynllqtk.jpg
Bìa một tác phẩm của nhà thơ Hữu Thỉnh.

Không tách chất thơ ra khỏi đời sống

Cái tinh tế của Hữu Thỉnh là ông không tách chất thơ khỏi đời sống đau khổ. Trái lại, thơ đối với ông là một cách đứng về phía những người bị khuất lấp, trước hết là người mẹ. Hình ảnh người mẹ không được miêu tả bằng những lời tán tụng lớn lao. Mẹ là người chịu đựng, hy sinh, lặng lẽ đứng sau miếng cơm manh áo, sau những cuộc đời con cái. “Miếng cơm manh áo che khuất mẹ tôi/ Sự vô tình che khuất mẹ”, hai câu thơ này có sức khái quát rất lớn. Mẹ không chỉ bị che khuất bởi nghèo khó, mà còn bị che khuất bởi chính sự vô tình của những người được mẹ yêu thương

Đặc biệt, câu thơ “Nhưng con chọn thứ vũ khí này bênh vực mẹ” cho thấy quan niệm sâu sắc của Hữu Thỉnh về thơ. Đó là vũ khí của tình thương, ký ức, lương tri và chữ nghĩa. Câu thơ cho thấy một nghịch lý cảm động: niềm vui không làm con người quên đi nỗi đau, trái lại, nếu có một tâm hồn sâu sắc, niềm vui còn khiến ta thấm thía hơn những hy sinh âm thầm phía sau mình.

Một mạch thơ lớn khác của Hữu Thỉnh là mạch thơ về biển đảo, chủ quyền và người lính. Câu thơ “Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình/ Đảo có lính cát non thành Tổ quốc” là một phát hiện rất Hữu Thỉnh. Đảo ban đầu chỉ là cát non, là thiên nhiên hoang sơ, nhỏ bé. Nhưng, khi có người lính hiện diện, có sự hy sinh, có mốc chủ quyền, cát ấy trở thành Tổ quốc. Hữu Thỉnh có khả năng làm cho lịch sử và chủ quyền hiện ra qua thân thể cụ thể của người lính. “Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc” là một hình ảnh rất đắt. Đất nước không còn là khái niệm trừu tượng. Nó được “đánh vần” bằng bước chân, bằng mồ hôi, bằng sự chạm vào của thân người.

Nếu trong thơ biển đảo, Hữu Thỉnh thường đạt tới vẻ đẹp sử thi trữ tình, thì trong bài “Nghe tiếng cuốc kêu”, ông lại đưa người đọc vào một không gian ký ức thăm thẳm của làng quê, gia đình, chiến tranh và thân phận. Tiếng cuốc trong bài thơ là một âm thanh ám ảnh. Nó không chỉ là tiếng chim gọi hè, mà là tiếng gọi của quá khứ, của mất mát, của những nỗi buồn chưa được hóa giải. Hữu Thỉnh có biệt tài làm cho đồ vật cũ mang linh hồn. “Cha tôi cầm chiếc chén lên/ Như cầm một phần đời mình/ Đã khô ra thành đất”, đây là một liên tưởng vừa cụ thể vừa đau. Chiếc chén đất không chỉ là vật dụng; nó là kết tinh của lao động, của đời người, của sự khô cằn và chịu đựng. Đời cha như đã ngấm vào đất, khô lại trong chiếc chén.

Chất thơ Hữu Thỉnh nằm ở giọng điệu trữ tình suy tưởng. Thơ ông ít khi chỉ dừng ở cảm xúc trực tiếp. Từ cảm xúc, ông thường đi đến một suy nghĩ về đời sống. Từ nỗi nhớ mẹ, ông nghĩ về sự vô tình của con người. Từ cát đảo, ông nghĩ về Tổ quốc và hy sinh. Từ tiếng cuốc, ông nghĩ về chiến tranh, hậu chiến, cái chết và hư danh. Nếu chỉ có cảm xúc, thơ dễ trôi đi, nếu chỉ có suy tưởng, thơ dễ khô. Hữu Thỉnh giữ được sự cân bằng: suy tưởng của ông luôn được nâng đỡ bởi hình ảnh và nhịp cảm xúc.

Thơ Hữu Thỉnh có khả năng kết hợp chất dân gian, chất đời thường và chất hiện đại. Có thể nói, chất thơ đặc biệt của Hữu Thỉnh là chất thơ của sự lắng sâu. Đó không phải thứ thơ lấp lánh trên bề mặt, mà là thơ của những lớp phù sa ký ức, những âm thanh xa vọng. Thơ ông giàu cảm xúc nhưng không dễ dãi, giàu suy tưởng nhưng không khô khan, giàu liên tưởng nhưng vẫn bám chặt vào đất, vào người, vào đời sống Việt Nam.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.

Minh họa: Lê Tâm

Tư duy con cua

Chị Tú, vợ của lão Trần, vừa trở thành tâm điểm chú ý của cả cơ quan khi nhận danh hiệu Gương mặt công chức ưu tú vào dịp cuối năm, kèm theo đó là quyết định thăng hai bậc lương.

Bữa tiệc “xác thịt”

Bữa tiệc “xác thịt”

Chỉ trong sáu ngày, từ 18 tháng Sáu tới 23 tháng Sáu, đã có ba nhân viên dưới trướng anh Keo, thợ săn ảnh tôi quen, liên tiếp qua đời do xuất huyết não cấp tính. Nếu nhân viên công ty này toàn các bác bảy, tám mươi tuổi thì còn hiểu được. Nhưng họ đều là thanh niên mới ngoài hai, ba mươi, thực sự rất đáng ngờ. Tôi bắt đầu cuộc điều tra. Tôi hỏi dạo gần đây anh Keo có làm mếch lòng ai không.

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

Sau một tuần tranh giải căng thẳng, cuối tuần qua, “Fjord” của nhà làm phim Romania Cristian Mungiu đã chính thức trở thành tác phẩm tiếp theo đoạt giải Cành cọ vàng danh giá tại LHP Cannes 2026. Càng đặc biệt hơn khi đây không phải thành công riêng lẻ, mà qua đó cho thấy chuỗi thành tích đặc biệt của đạo diễn này, nữ diễn viên chính Renate Reinsve lẫn nhà phân phối phim NEON.

Thị thành lơ ngơ gặp dân Bàn Cờ

Thị thành lơ ngơ gặp dân Bàn Cờ

Đâu chừng 1950, cả một khu rộng lớn từ Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng Tám) đến đường Lý Thái Tổ, đã được thị dân đất này gọi là khu Bàn Cờ. Bây giờ, 4 con đường rất lớn là Điện Biên Phủ, Lý Thái Tổ, Nguyễn Thị Minh Khai và Cách Mạng Tháng Tám bao bọc khu Bàn Cờ như 4 góc chặn, gói vào lòng nó là trăm hẻm nhỏ, xóm nhỏ và hàng ngàn mái gia đình đi qua bao nhiêu thế hệ.

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Vua hám lợi

Vua hám lợi

Ở một thị trấn nhỏ miền Bắc có một người mà ai cũng biết, gọi là “Vua hám lợi”- đó là lão Vương. Lão Vương năm nay hơn năm mươi tuổi, dáng người không cao nhưng đôi mắt lão cực kỳ linh lợi, lúc nào cũng đảo quanh như thể đang tìm cơ hội kiếm lợi tiếp theo.

Nâng đỡ những cuộc đời lầm lỡ

Nâng đỡ những cuộc đời lầm lỡ

Một ngày tháng 5, chúng tôi có mặt tại Trại giam Xuân Nguyên thuộc Bộ Công an. Cái nắng oi ả càng làm cho không khí làm việc tại trại trở nên “nóng” hơn. Từ Ban Giám thị đến từng cán bộ, chiến sĩ đều đang căng mình, dồn hết tâm sức để chuẩn bị cho đợt đặc xá diễn ra vào ngày 1/6. Giữa guồng quay hối hả ấy, Thượng tá Đàm Thị Hiền, Phó Giám thị phụ trách giáo dục và hồ sơ luôn là người giữ lửa thầm lặng trong hành trình hồi sinh những cuộc đời lầm lỗi.

Trăng đỏ

Trăng đỏ

                                                                                                             Truyện ngắn dự thi của Vi Hợi

Trăng trên đỉnh Phá Khao đêm nay lạ lắm. Nó không vàng vọt như những đêm hanh hao đầu mùa, cũng không bạc trắng như sương muối. Nó đỏ quạch, đặc quánh như vũng máu loãng đổ dền lên những phiến đá tai mèo sắc lẹm. Gió núi thổi thốc qua những hốc đá, phát ra âm thanh u u, rền rĩ như tiếng của hàng ngàn con ma khát nước đang bò lê lết dưới thung sâu.