Xuân Mậu Tuất 2018, đọc lại một bài thơ Xuân Mậu Thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ Xuân Mậu Thân 1968. Xuân Mậu Thân ấy là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam ta chống đế quốc Mỹ xâm lược. Xuân Mậu Thân ấy cũng là một mùa xuân đặc biệt, khi nhìn từ những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng ta biết, đã từ lâu, như một tập quán, như một niềm vui, mỗi độ Tết đến, xuân về, nhân dân ta lại đón chờ thơ chúc Tết mừng xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhìn lại, sẽ thấy, bài thơ chúc Tết mừng xuân đầu tiên của Người là bài “Chúc năm mới” đăng trên báo Việt Nam độc lập số 141 (1-1-1942). Sau đó, trong suốt 24 năm, từ 1946 đến 1969, chỉ có ba năm (1955, 1957, 1958) vì những lý do nào đó, chắc là những lý do ngoài ý muốn, Người không có thơ mừng xuân chúc Tết. Và, hơn bất cứ một năm nào khác, Xuân Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết đến sáu bài thơ - cả thơ tiếng Việt và thơ chữ Hán.

Về thơ tiếng Việt, có các bài: “Mừng xuân - 1968”, “Không đề” (3-1968), “Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế” (3-1968). Về thơ chữ Hán, có các bài: “Vô đề” (3-1968), “Nhị vật” (không ghi ngày tháng) và “Mậu Thân xuân tiết” (14-4-1968).

Bác Hồ chúc Tết nhân dân Hà Bắc năm 1967. (Ảnh tư liệu)
Bác Hồ chúc Tết nhân dân Hà Bắc năm 1967. (Ảnh tư liệu)

Hãy đọc lại bài “Mậu Thân xuân tiết” và xem xét tương quan giữa bài thơ này với những bài thơ khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Nguyên văn

Phiên âm:

Mậu Thân xuân tiết
Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên
Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên
Bạch điểu tróc ngư hồ lý khứ
Hoàng oanh phi thượng thiên
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền

                                                    14-4-1968

Dịch nghĩa:

Tiết xuân Mậu Thân
Tháng tư, muôn hoa nở đầy vườn
Màu đỏ, màu tím tranh nhau phô vẻ đẹp tươi.
Chim trắng bắt cá từ hồ bay đi,
Chim hoàng oanh bay thẳng lên trời.
Trên trời, những đám mây [vốn nhàn tản, bây giờ nhộn nhịp] bay đi bay lại
[Vì] bận rộn báo tin thắng trận [cho mọi người biết].

                                         14-4-1968

Dịch thơ:

Tiết xuân Mậu Thân
Hoa nở đầy vườn giữa tháng tư
Hồng hồng, tím tím cùng tranh đua.
Chim trắng xuống hồ bắt cá,
Hoàng oanh vút lên trời.
Mây trước nhởn nhơ, nay nhộn nhịp:
Miền Nam thắng trận, báo tin vui
.

                              (Hồng Diệu dịch)

Chúng ta biết, hầu như những bài thơ chúc Tết mừng xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những ý tưởng sau đây quán xuyến suốt từ bài này đến bài khác:

- Chúc mừng năm mới đồng bào, chiến sĩ trong nước (và có khi cả thế giới, cả các nước anh em bạn bè).

- Nhìn lại tình hình năm qua.

- Khen ngợi, thúc giục các tầng lớp nhân dân đoàn kết, thi đua, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ (có những khi là những nhiệm vụ rất cụ thể).

- Tin tưởng ở thắng lợi của cách mạng.

Tất cả những bài thơ ấy đều hết sức giản dị, súc tích, cứ như viết thẳng ra từ ý nghĩ, không dụng công gì nhiều. Nếu cần nói gọn về “chủ đề chính” trong những bài thơ ấy, thì không gì hơn là mượn ngay lời thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài “Thơ chúc tết Nhâm Thìn - 1952”:

Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân


hay trong bài “Chúc mừng năm mới - 1964”:

Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân

“Mậu Thân xuân tiết” thì khác. Bài thơ không có “kêu gọi”, không có “mừng xuân”, và không “nôm na” chút nào (đọc nguyên bản chữ Hán, không qua dịch xuôi, không qua dịch thơ càng thấy rõ điều này).

Ta lại biết, “Mậu Thân xuân tiết” làm theo thể thơ Đường luật, nhưng không câu nệ mà thoải mái, phóng túng. Sau hai dòng đầu với những câu thơ bẩy chữ theo đúng niêm luật, câu thứ ba và câu thứ tư bỗng giảm xuống sáu chữ rồi năm chữ, làm cho “tốc độ” bài thơ tăng nhanh; hai câu cuối lại trở lại bảy chữ và theo đúng niêm luật, như niềm vui của bài thơ được kéo dài...

Bài thơ không có bóng dáng con người, kể cả tác giả. Chỉ có hoa cỏ, chỉ có chim chóc, chỉ có mây gió (gió ẩn sau dòng chữ). Và nhiều màu sắc trong có sáu dòng thơ: hồng, tím, trắng, vàng (hồng và tím còn được lặp lại hai lần).

Vậy mà ở đây, con người (tác giả và không chỉ tác giả) như hiện diện trong từng chữ. Người đọc thấy có một đôi mắt hân hoan đang quan sát mọi thứ trước mặt, với một niềm vui vô bờ ẩn ở trong lòng - vui vì được tin thắng trận lớn ở miền Nam.

Ta cũng biết, Xuân Mậu Thân 1968, cuộc tổng tiến công chiến lược đánh Mỹ nổ ra khắp miền Nam. Có đến 37 trong 44 tỉnh, 5 trong 6 đô thị lớn và 64 trong 242 quận lỵ đồng loạt nổ súng. Ở Sài Gòn, nhiều cơ quan đầu não của giặc bị đánh chiếm: Dinh Độc lập, Tòa đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh, Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát...

Nhiều vùng nông thôn miền Nam và ấp chiến lược, nhân dân đứng lên làm chủ. Ở Huế, 39 mục tiêu quan trọng của địch bị chiếm giữ... Thắng lợi của cuộc tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968 cho thấy thế và lực của cách mạng ở miền Nam đã mạnh hơn bao giờ. Nó cũng làm cho phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở trong lòng nước Mỹ càng lên cao, ý chí xâm lược của Mỹ bị đánh sập, Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra miền Bắc và phải ngồi vào bàn đàm phán...

Thấy được bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở mùa xuân Mậu Thân như thế, sẽ thấy rõ hơn ý nghĩa của “Mậu Thân xuân tiết”, và lý giải được vì sao bài thơ lại có một sắc thái khác những bài thơ chúc Tết mừng xuân khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi đã được đọc mấy bản dịch bài thơ “Mậu Thân xuân tiết”, thấy có những chỗ dịch chưa thỏa đáng, nếu không muốn nói là đã dịch sai.

Trước hết, ở tên bài thơ có chữ “tiết”. Tiết, trong chữ Hán có nghĩa thông thường là tết, ngày lễ. Còn một nghĩa khác, ít được dùng là... tiết (một khoảng thời gian nào đó). Bài “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du có câu:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt

(Tháng bảy ở đây không có lễ tết gì, chỉ là tiết... mưa dầm).

Ở cuối “Mậu Thân xuân tiết”, tác giả lại ghi ngày viết bài thơ: 14-4-1968. Lúc này, tết qua đã lâu. Vì vậy, mấy bản dịch tên bài thơ ra “Tết Mậu Thân”, chắc chắn là sai. Đó là điều tương đối dễ thấy. Còn một điều khác, khó thấy hơn, thuộc về chuyện thẩm thơ. Hai câu cuối của “Mậu Thân xuân tiết” tôi thấy hai bản dịch (in trong quyển “Hồ Chí Minh - thơ, toàn tập” của Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu quốc học, năm 2000) có chỗ cần lưu ý. Bản của Giáo sư Phan Văn Các dịch:

Trên trời mây đến rồi đi
Miền Nam thắng trận báo về tin vui.

Bản của cụ Trần Đắc Thọ dịch:

Thong dong bao đám mây trời
Miền Nam tin thắng không ngơi chuyển về.

(Cụ Trần Đắc Thọ còn dịch xuôi hai câu này như sau:

Trên trời những đám mây nhàn hạ bay đến rồi lại bay đi.
Thắng trận ở miền Nam báo về rộn rịp).

Hai bản dịch của Giáo sư Phan Văn Các và cụ Trần Đắc Thọ, không hẹn mà nên, đã tách rời hai câu này thành hai nghĩa riêng: mây thì cứ bay đi rồi bay lại, tin thắng trận ở miền Nam thì đang báo về. Tuy nhiên, theo tôi, hai câu này phải gắn liền với nhau một cách hữu cơ: mây bay đi bay lại là để báo tin thắng trận ở miền Nam (xin xem lại phần dịch nghĩa và dịch thơ dưới bản chữ Hán của người đang viết những dòng này, ở đầu bài; đừng quên dấu hai chấm (:) ở câu thứ năm bản dịch thơ).

Thật là lý thú, khi được ngồi thưởng trà giữa những ngày xuân, đọc vang những âm thanh sang trọng ở những từ ngữ Hán Việt của bài thơ “Mậu Thân xuân tiết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhớ về một thời chiến tranh với bao nhiêu kỷ niệm...

Hồng Diệu

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.